TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

Tài nguyên dạy học

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU WEBSITE HỌC LIỆU

    Kính gửi quý thầy cô giáo và các em học sinh thân mến! Website Thư viện Trường Tiểu học Lê Văn Tám – Thanh Hóa là không gian học tập số được xây dựng nhằm phục vụ hiệu quả công tác giảng dạy, học tập và phát triển văn hóa đọc trong nhà trường. Website cung cấp hệ thống tài nguyên phong phú như: giới thiệu sách hay, sách theo chủ đề, tài liệu tham khảo, học liệu điện tử, tin tức hoạt động thư viện và các nội dung hướng dẫn kỹ năng đọc – kỹ năng tìm kiếm thông tin phù hợp với lứa tuổi học sinh tiểu học. Giao diện thân thiện, dễ sử dụng giúp giáo viên thuận lợi khai thác tài liệu phục vụ bài giảng, đồng thời hỗ trợ học sinh hình thành thói quen đọc sách, tự học và khám phá tri thức một cách chủ động. Thư viện trân trọng kính mời quý thầy cô và các em học sinh thường xuyên truy cập website để cùng lan tỏa tình yêu sách, nuôi dưỡng tri thức và xây dựng môi trường học tập tích cực, nhân văn trong nhà trường.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z7307430848503_8e28d761b4e6e370e63fe337163221cf.jpg Z7307430840636_6c0f784596e92ebaf8c32f4dbfdb8619.jpg Z7307430821932_7ebe16cae01ea732e09436a31486fec6.jpg Z7307430828887_3d95fe1b57f808ccb81620bd079b99fd.jpg Z7307544372659_617cbe2b817d509dcc7348fb7a685de4.jpg Z7307544391587_4a4ebc51cd199f145d8b2409764c0c76.jpg Z7307544375474_1d0658d1435c6688f41f22eeb11322da.jpg Z7307544372902_f350534a53f1c4540642de4c780cac2b.jpg Z7307544340399_eb68ff964d283fd9d13ca3ee1ef7a433.jpg Z7307544335910_81eb86db101f851641919d036101c05b.jpg Z7307544325392_e8a27a5c9c2dbe979af6df8da3074416.jpg Z7307544323346_5ee7dd6a5a6e3088b8cbb7e5c0396ffb.jpg Z7307430898228_b5b22da7c6d22ebca198ee2dd9c0bf12.jpg Z7307430864241_9a20595ea1cf0b5e5e986f91e96d0429.jpg Z7307430886828_75df77cd44369a885c4993cfa9aed936.jpg Z7307430877743_6e2fa3474c46957d62577d7c1592fcae.jpg Z7307430870741_8ca6be50325ae46467cfa5dde763b9d4.jpg Z7307430859513_52b27e98fd7b13884f232d8b4809514f.jpg

    💕💕 Hãy đọc mỗi ngày, không phải để trở nên khác người, mà để trở thành phiên bản hiểu biết và nhân văn hơn của chính mình.💕💕

    Sách nói Chuyện của Bắp Ăn Mơ Và Xóm Đồi Rơm - Cao Khải An

    MÃI MÃI TUÔIT 20

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Trần Thị Ý Nhi
    Ngày gửi: 08h:42' 13-04-2024
    Dung lượng: 831.0 KB
    Số lượt tải: 3
    Số lượt thích: 0 người
    Nguyễn Văn Thạc

    MÃI MÃI TUỔI HAI MƯƠI
    Dự án 1.000.000 ebook cho thiết bị di động
    Phát hành ebook: http://www.SachMoi.net
    Tạo ebook: Tô Hải Triều
    Ebook thực hiện dành cho những bạn chưa có điều kiện mua sách.
    Nếu bạn có khả năng hãy mua sách gốc để ủng hộ tác giả, người dịch và Nhà
    Xuất Bản

    Chương 1
    2-10-1971
    Nhiều lúc mình cũng không ngờ nổi rằng mình đã đến đây. Không ngờ rằng trên mũ
    là một ngôi sao. Trên cổ áo là quân hàm đỏ. Cuộc đời bộ đội đến với mình tự nhiên
    quá, bình thản quá và cũng đột ngột quá.
    Thế là thế nào? Cách đây ít lâu, mình còn là sinh viên. Bây giờ thì xa vời lắm rồi
    những ngày cắp sách lên giảng đường, nghe thầy Đường, thầy Đạo… Không biết bao
    giờ mình sẽ trở lại những ngày như thế. Hay chẳng còn bao giờ nữa! Có thể lắm. Mình
    đã lớn rồi. Học bao lâu mà đã làm được gì đâu, đã sống được gì đâu? Chỉ còm cõi vì
    trang sách, gầy xác đi vì mộng mị hão huyền.
    Hai mươi tám ngày trong quân ngũ mình hiểu được nhiều điều có ích. Sống được
    nhiều ngày có ý nghĩa. Dọc đường hành quân, có dịp xem lại lòng mình, soát lại lòng
    mình.
    Mình bắt đầu sống có trách nhiệm từ đâu, từ lúc nào? Có lẽ từ 9-3-1971, tháng ba của
    hoa nhãn ban trưa, của hoa sấu và hoa bằng lăng nước.
    Những người bạn thân yêu của mình đã lần lượt đi học xa hết cả rồi. Mỗi người một
    phương. Các bạn đã đi lên phương Bắc. Còn mình, sẽ đi về phương Nam…
    Đêm Hà Bắc thật thanh bình. Thèm quá, nghe một tiếng thì thào của cánh gió trên đồi
    bạch đàn… Mình đã sống trên 20 ngày bên hồ cá Yên Duyên, Yên Sở. Ở đó có những
    đường cây đẹp tuyệt. Mình đã chụp tấm ảnh bộ đội đầu tiên dưới một gốc dừa, sau
    lưng là hồ cá. Hoàng hôn thong thả thay màu nước. Và ngôi sao Hôm trầm tư, kiêu
    hãnh đã mọc trên trời. Cuộc đời bộ đội đâu dễ dàng như thế. Mình đã khóc, nước mắt
    giàn giụa, khi các bạn tiễn mình đi, khi buổi lễ kết thúc, khi bài Quốc ca rung bầu
    không khí trong lành trên Trường Tổng hợp. Bản nhạc này đây, bao lần mình đã nghe,

    đã cúi đầu suy nghĩ. Nhưng hôm nay mới thực hiểu, thực cảm một điều giản dị: Bài
    Quốc ca của ta, của ta!
    Khóc, không phải vì hèn yếu, không phải vì buồn bã, mà vì xúc động. Vì buổi chia
    tay này thiêng liêng quá. Những người bạn thân yêu nhất của mình không thể tiễn
    mình đi được. Và bàn tay ấy, và đôi mắt ấy, giọng nói ấy… Lên xe rồi, xe nổ máy. Xe
    VN sản xuất, tiếng động cơ như tiếng tim mình vậy. Nghẹn thắt vì một cảm giác khó
    tả, mình ngước nhìn lần cuối cùng cánh cửa sổ, nơi hằng ngày mình bò ra, nhìn xuống
    lòng đường. Khoảng trời nhỏ của riêng mình đó. Một hôm nào, những hôm nào mình
    mong chờ nhìn thấy bạn của mình đạp xe qua, để mình gọi… Bây giờ, là chia tay, xe
    lăn bánh, êm ru, xe đi êm, mà bọn mình xô vào nhau, chen nhau thò tay ra cửa. Ngoài
    kia, những khuôn mặt gần gũi, tuy có người chẳng bao giờ mình trò chuyện, chẳng
    bao giờ mình nghĩ rằng có họ sống trên đời… ở đâu, khuôn mặt thân yêu ấy? Bạn đi,
    mình không gặp được.
    Đêm 26.7 chỉ là những gương mặt xa lạ, đầy vẻ háo hức và tự mãn. Rối loạn, và
    thoảng một thứ mùi khó chịu. Mình không dám đứng lâu và đành chịu một nỗi ân hận
    giày vò… Mình đi, khi bạn đang bước vào năm học mới. Bước lên giảng đường, bạn
    có nhớ tới mình không?… Đừng, hãy để tâm hồn trọn vẹn thanh thản, mà đón một
    mùa xuân của lòng mình. Trang đầu của cuộc đời sinh viên, đừng để rơi một giọt
    mực, đừng để loang lổ một vết ố vàng…
    Xe ơi, lao nhanh hơn, cho ta chóng tới gia đình lớn. Nơi ta gửi gắm cả thời thanh xuân
    của mình…
    Hơn cả khi trên tay phập phồng tờ quyết định. Vui sướng, tự hào, cảm động làm sao
    khi trên người ta là bộ quân phục xanh màu lá. Anh sinh viên quen màu trắng áo của
    cánh cò, quen màu xanh da trời tháng nắng… Mình trút bỏ không thương tiếc, và trìu
    mến khoác lên mình màu xanh ấy. Màu xanh của núi đồi và thảo nguyên, của ước mơ
    và hi vọng. Màu xanh bất diệt của sự sống.
    Trên mũ là ngôi sao. Ta lặng ngắm ngôi sao, như hồi nào ta chỉ cho bạn: Kia là sao

    Hôm yêu dấu… Nhưng khác hơn một chút. Bây giờ, ta đọc trong ngôi sao ấy, ánh lửa
    cầu vòng của trận công đồn, màu đỏ của lửa, của máu…
    Ta thấy trong màu kỳ diệu ấy, có cả hồng cầu của trái tim ta….
    Ai ra đi cũng với lòng say lý tưởng, và nhẹ nhàng bên trong là chút ước mơ. Buổi gác
    đầu tiên là đêm trăng sáng, là bài thơ, là một trang nhật ký… Sung sướng và hãnh
    diện biết bao, ơi xóm làng yêu qúi, ngủ yên, ngủ yên, có anh bộ đội thức canh trời.
    Những mái nhà nghiêng như mí mắt thân thương, nhắm ngủ ngon lành… Ta bước
    nhẹ, lâng lâng một mùi hương quen thuộc. Bưởi đã cuối mùa, ổi đã cuối mùa… Cây lá
    đang dồn nhựa để trổ ra một mùa quả chín…
    Đồng đội đọc cho ta nghe những vần thơ trong trẻo:
    “Gậy Trường Sơn đưa ta lên đường đánh Mỹ.
    Nồi cơm Thạch Sanh xưa là chuyện ước mơ.
    Nay là lòng dân với người chiến sỹ”.
    Ta đã đọc ở đây những cái tên lần đầu ta đọc, lần đầu ta biết. Cái tên ấy, những cái tên
    ấy là một nốt sol điềm tĩnh, nốt la nhí nhảnh… là 7 cung bậc của bản đại hợp xướng
    mà dân tộc ta đang cất lên tiếng hát…
    …”Bộ đội đi rồi, chỉ khổ dân, lại nhớ mãi thôi…”
    Ai đã nói với mình điều ấy, khi trời đã rạng sáng? 9g30 phải vào màn, nhưng ta thức
    trọn một đêm, với bốn bề đang rạng sáng, mặt trời mọc, và em bé đã ríu rít ở hàng ô
    rô xén gọn. Một tiếng võng kêu, một vệt nắng kẻ ở ngoài hiên, một con nhện giăng tơ
    trên cành ổi… Có gì khác với nơi ta ở, nơi ta gửi gắm tuổi thơ. Sông Tô Lịch đen
    ngòm chảy rụt rè trong thành phố, tới đây, vẫn rụt rè như cây trinh nữ… “Mắc cỡ gì
    mà khép cánh ư em?”
    Ta đã bao lần đi bên sông Tô Lịch, trước kia ta khó chịu vì mùi bùn oi nồng… Ta đã

    mấy lần hành quân bên sông Tô Lịch, ta yêu sông vì bọt tăm sủi, vì màu xanh non,
    tươi trẻ có công vun đắp của dòng sông. Có phải lòng sông đã quên mình nhơ bẩn, đã
    chịu lòng mình mang mùi vị ấy để đem cho đời những cọng rau muống tươi kỳ lạ, để
    đem màu hồng tươi cho thành phố. Sông Tô ơi, mai trở về, ta khơi lại dòng sông, cho
    tuổi thơ vẫy vùng, cho con thuyền anh chở em đi, đi vòng quanh thành phố…
    Hôm nay, đi bên sông, dưới cái nắng chang chang, trên vai là balô con cóc của Trường
    Sơn. Không thể nói là nhẹ được. Quai đeo thít vào vai, ép lồng ngực lại. Đau và bỏng
    rát, khó thở. Đè lên hông, ép vào lưng, ướt đầm đìa là mồ hôi ta đấy. Ta đặt balô, và
    cười luôn được. Ừ, cuộc đời ta là thế. Phải cười và phải vui. Bài hát ta yêu là Trường
    Sơn Đông – Trường Sơn Tây… Con đường gánh gạo không có muỗi, nhưng không
    phải là nhẹ nhõm. Vai sinh viên, mặc dù tâm hồn luôn bay bổng, nhưng nên thơ hơn
    cả những vần thơ là cái nghiến điếng người trên vai, là cái nắng bàng hoàng, dữ dội.
    Yên Sở ơi, ta yêu Yên Sở như làng quê ta vậy. Nơi trú quân đầu tiên của đời ta. Nơi ta
    gọi bạn của mình là đồng chí. Nơi em thơ gọi ta là chú bộ đội, và những cô gái làng
    gọi ta: Chào các anh bộ đội.
    Em đừng cười anh vì bộ quân phục thùng thình. Mẹ ta nghèo, rau cháo nuôi ta, đau
    khổ bốn nghìn năm, chắt chiu từng hạt gạo nuôi ta. Để bây giờ ta lớn. Phải lớn lên,
    phải to ra cho kịp tầm cao của lịch sử. Cánh tay này sẽ bóp nghẹt cổ quân thù.
    Đêm đầy sao, chi chít những sao, như lòng mẹ, như lòng em đứng ở bên đường. Hồ
    nước trong kỳ lạ. Sao mẹ kể, những cái hồ ấy là nước mắt? Đau khổ nghìn năm,
    những tròng mắt nào đã đầm đìa để tích tụ thành hồ… Mà hôm nay đời vui như thế?
    Con cá dưới hồ cũng quẫy, cũng đớp ánh trăng và chào anh bộ đội… Cá, cá ơi, đừng
    cười anh nhé, đừng kể cho những cô gái trong làng, chuyện bọn anh sợ đ*********,
    khi các cô ngồi bên bờ này nhắc đến các anh… Quên làm sao vườn nhãn um tùm, nơi
    ngày đầu ta ngồi yên nghe giảng bài chính trị… Đầm ấm quá thôi, trên là cây lá, xanh
    xanh, lấp lánh ngôi sao trên mũ, lung linh những vì sao trên cổ áo, đỏ như lửa là quân
    hàm, bùng cháy những ngọn đuốc là cháy tim ta… Ê a, ê a là lời em thơ tập đọc. Cô
    gái nào mà dáng thanh thanh giống người ấy thế… Kỷ niệm lắng sâu, theo ta vào trận

    đánh…
    Những ngày hôm nay, hôm nay sao khỏi bồi hồi. Nồi nước mẹ đun sao thơm kỳ lạ. Có
    phải đắng cay cả một đời, nên bát nước mẹ đưa ngọt ngào đến thế? Chia tay với con
    mà mẹ vẫn cười, âu yếm…
    Hành quân từ 5 giờ chiều đến 9 giờ đêm, đẹp lắm. Trăng đầu tháng còn đỏ quạch, cứ
    gợi cho ta nhớ một cánh buồm. Đấy, cánh buồm đỏ thắm, đựng đầy gió, gió cuốn
    những ngôi sao đêm, ùa vào lòng thuyền và đẩy thuyền trôi trong tâm tưởng… Ngủ
    bên bờ một dòng sông, có những đường dừa thật đẹp.
    Trời trong quá, dây điện chăng như những dòng kẻ của một trang vở học trò. Đừng
    bấm đèn trêu họ, cứ để họ nói chuyện với nhau. Anh con trai sắp xa người bạn của
    mình. Cô ta lại về trường học tiếp. Chỉ còn vài tiếng nữa thôi là còi tàu, là chuyển
    bánh. Anh dặn gì cô ấy, có lẽ chẳng dặn gì đâu, và chỉ mỉm cười… Cậu nào đã cất
    tiếng hò:
    “Tiếng ai như tiếng chuông vàng
    Tiếng ai như tiếng cô nàng của anh…”
    Còn tiếng này thì đúng là giọng anh Châu rồi, anh “Mộng Châu”:
    “Anh yêu em lắm em ơi,
    Nhưng anh chẳng dám ngỏ lời với em…”
    Lính khoái, cười khúc khích… Những vì sao dưới sông cũng va vào nhau… Những
    cánh dừa cũng nắm tay nhau tinh nghịch bay qua bầu trời thanh bình. Tiếng động cơ
    như xay lúa.
    Đêm đẹp vô cùng, ta lắng nghe đất thở. Anh bạn nằm bên rọi đèn pin tìm gì, có phải
    anh tìm con dế đang cần cù dạo bản nhạc đêm của Pritsvin? Không cưỡng nổi, ta lấy
    giấy và viết thư cho Như Anh…

    Chương 2
    “12 giờ đêm 28/9/1971”
    Như Anh có thích đọc những dòng này hay không? T. viết cho Như Anh khi đang
    nằm trên bờ một con sông. Sông đẹp lắm. Đêm rất khuya. Vành trăng đỏ quạch sắp
    lặn xuống chân trời.
    Đồng đội của T. người thì đang ngủ, người đang nói chuyện. Dưới cuốn sách mà T.
    kê, có 2 lá thư sắp gửi cho Như Anh. Sương ướt đẫm vải nhựa. Không một ngọn đèn.
    Chỉ những vì sao, soi cho T. viết những dòng này.
    Bắt đầu cuộc đời bộ đội là thế này đây. Tối quá, nhưng cứ viết. T. thích thế. Rồi đây,
    sẽ có nhiều lúc T. viết thế này. Chắc xấu như ma lem.
    (Hành quân đây – Chào Như Anh nhé – Thật tiếc)…
    Đến ga rồi, ga Văn Điển. Nhưng nào có tàu. Mệt quá, lại phải gánh nồi quân
    dụng.Chẳng chịu được nữa, mình ngồi bệt xuống đất, dựa vào ba lô mà ngủ. Suỵt, nói
    giấu các “o văn công” chứ, thật đúng với câu: “Má văn công, mông bộ đội”!. Những
    chuyến tàu đêm chạy từ Hà Nội đến, cánh cửa, ô cửa đầy thương nhớ. Tàu phì ra
    những cuộn khói, những đám mây nhân tạo. Mặc kệ, tớ còn ngủ. Đợi một chuyến đi
    xa…
    Sau cùng thì xếp được ba lô lên tàu. Tàu T. Q, khá rộng. Mình chẳng có chỗ đứng,
    đành đứng trước chỗ đi giải. Thật bất tiện. Nhưng chẳng sao hết.
    Đêm âm u quá, cánh đồng vắng lặng, chỉ nghe tiếng gió, tiếng con tàu thở phì phì. Kia
    rồi, Hà Nội, là phố Nguyễn Du lấp lánh sau bức tường của ga Hàng Cỏ. Thôi, chào Hà
    Nội, 3 hoặc 4 tháng sau ta lại về, ta lại hành hương trên các đường phố vắng gắn bó
    với cuộc đời ta…

    Sông Hồng ban đêm, mùa nước, cầu phao dập dềnh, ta nhận ra cầu vì ánh điện.
    những con mắt chói ngời kia bảo ta, đó là bờ… Chao ôi, dòng sông Ănggara xa xôi
    chảy qua thành Iêkut, đêm nào có giống đêm nay? Ta như gặp lại khuôn mặt thân yêu
    ấy. Giói đừng thổi mà tóc lại bay rối, lại phải lấy lược chải hoài… Gió đừng thổi, hơi
    lành lạnh đấy, mà áo thì mỏng về nhà lại ốm…
    Bắt đầu xuất hiện bạch đàn dọc theo đường tàu chạy. Cây bạch đàn ta yêu, ta quí. Cây
    bạch đàn chép lại cho ta một thời thơ ấu đầy chất thơ, và say nồng mùi cỏ mật. Bạch
    đàn ơi, chạy theo anh nhé, chạy theo tàu của anh và sống mãi với anh. Khi nào anh
    nằm xuống, bạch đàn hãy rủ lá, run rẩy và ru cho anh ngủ. Cây bạch đàn cứ cao lớn
    với đời, cứ hát cho đời bài ca về thầy giáo Đuy Sen và cô học trò giỏi Altưnai, bài ca
    về cây phong lá đỏ. Mặt trời mọc rồi, các ô cửa của toa tàu xanh màu quân phục. Em
    nhỏ trên đồi đi học đấy ư, mà sao khăn quàng bay và bàn tay nhỏ cứ vẫy các anh… Ta
    bỗng nhớ một đoạn thơ T.H:
    “Các em ơi, đã học chưa
    Các anh dựng cho em trường mới nữa.
    Chúng nó chẳng còn mong giội lửa
    Trường của em đứng giữa đồi quang
    Tiếng các em thánh thót quanh làng…”
    Ta đã đi qua vùng đồi trung du của Bắc Thái, dấu vết của chiến tranh, của lụt lội còn
    hằn rõ ở đây. Ta đã nghĩ gì khi nhìn và lặng người bên hố bom thù đào sâu gần khu
    luyện gang thép. Mẹ ơi, ở đây con đã hiểu chiều sâu của đất. Cuộc sống thanh bình
    chỉ cho ta giá trị chiều rộng, chiều dài của mảnh sân con thường đùa nghịch, của
    mảnh vườn tháng 10, mía đang ngọt dần lên ngọn, của ngôi nhà ấm cúng con ngồi
    viết bài thơ ca ngợi đất. Chưa biết rằng, đất có chiều sâu, mà hôm nay vế bom thù đã
    khơi dậy cho con.

    Ga Lương Sơn hay ga gì đó, xuống tàu và vào bãi cỏ rộng nghỉ. Khoảng 9 giờ rồi, cỏ
    may, cô gái nào xưa níu bước chân chàng trai trẻ, nay gài vào quần các anh bộ đội. Cô
    muốn thêu gì lưu niệm? Đêm nay, bên bếp lửa nơi trú quân, nhặt cỏ may và chắc có
    anh chàng mơ mộng lại nghĩ hoài một người bạn gái, giỏi nghề may vá… “Em khâu gì
    vào chiếc áo của anh?”…
    Và cả cây mắc cỡ, cô gái ngây thơ, khẽ chạm vào là nép mình xấu hổ, các anh lính trẻ
    lại cứ trêu hoài…
    Chuyển tàu, lính xô nhau lên chiếm chỗ gần cửa sổ. Ừ thế mà Vũ Đình Minh lại viết:
    “Người bốn phương nhìn nhau qua ánh mắt/ Một chỗ ngồi cũng nhường nhịn cho
    nhau”!
    Tớ khoái không để đâu cho hết, vì được ngồi bên cửa sổ. Tàu chạy rồi, gió thốc vào
    mát lạnh. Từ đây, rừng rậm rạp hơn, đồi kề ngay đường tàu chạy. Người kiếm củi trên
    đồi cứ vẫy…

    Chương 3
    3.10.1971
    (Suốt đêm qua không ngủ được. Cứ thức hoài vì những cảm giác nôn nao, rạo rực. 1
    giờ sáng, khuya quá rồi. Phải vào màn ngủ. Ừ, cuộc sống bên trong của con người
    thật kì lạ, cứ nhớ, cứ nhớ… Nhớ ai, nào biết… mà sao không ngủ được).
    Rừng chẳng nên thơ như ta tưởng tượng. Cây cao, xù xì nom rờn rợn. Vực sâu, dây leo
    chằng chịt, chứa đựng biết bao điều bí ẩn. Cuộc sống của ta sẽ kéo dài ở đó.
    Dân tộc ở đây là gì? Mán hay Thổ? Ta chỉ mong nhìn thấy một cô gái Sán Dìu, quần
    đỏ, giữa mênh mông đồi cây. Bỗng nhớ một câu thơ có vần: Gà đánh trống…/ Khỉ leo
    thang/ Có những cô nàng/ Váy đỏ yếm trắng… ” Sao lại nhớ đến câu ấy? Bạn hỏi vậy.
    Mình chẳng biết nữa. Hình như màu sắc, âm thanh, hình khối hoà trộn trong đó phù
    hợp phần nào với những cảnh mà mình đang chứng kiến.
    Ai đã xây nên những đường hầm xuyên núi, bàn tay của ai đã lần lữa trên những mặt
    đá này. Ngồi bên cửa tàu chạy nhanh, gió thốc vào lành lạnh, cả hơi đất, hơi đá ẩm
    ướt, âm u. Toa tàu tối om. Không ai hé răng. Vì sợ hay vì lạ. Còn mình thì lạ, cứ thò
    đầu qua cửa, nhìn về phía cửa hầm. Bụi than bám đen cả mặt. Con tàu phóng thanh
    rung lên bần bật. Ánh nắng đây rồi, hối hả trên từng khuôn mặt. Ngoảnh lại phía sau,
    là ngọn đồi con tàu vừa chui qua. Vẫn cây lá ấy, bình thản vô tư lự… “Chuồn chuồn
    kim thân dài, cánh đỏ/ Em khâu gì trong áo xám của đồi cây… “
    Có lẽ là như vậy. Yên lặng, bình thản trên đó, để dưới đáy sâu của nó, có con tàu băng
    băng chở đi một nguồn sinh lực mới…
    Tàu ơi, cứ chạy đi, chạy nhanh đến những vùng đất nước xa xăm. Kìa là cây vào, cây
    bương, khác với lùm tre quen thuộc. Cái cây gì mà cao lạ lùng, trong suốt cả cuộc đời
    nó đã tiễn mấy chuyến tàu qua…

    Bạn thì thào bên tai: Suối đấy, trong lắm. Nhưng đừng vội tắm… Ờ, dòng suối trong
    vắt, róc rách chảy dưới chân đồi. Những viên sỏi xanh đỏ tím vàng óng ánh đâu rồi?
    Mà chỉ thấy những chiếc lá úa vàng xoáy tròn và chìm nghỉm… Đám mây ơi, mây trôi
    về đâu? Nhắn giùm ta tới người bạn ấy, rằng: ta nhớ lắm, nhớ bồi hồi. Ta gục đầu
    xuống bàn… Rồi sau đó thì sao, P. không biết nữa, P. không muốn biết nữa, vì khi đó,
    T. gần quá, đến nỗi không thể chấp nhận được câu trả lời ấy…
    Anh câu gì bên dòng suối ấy? Tôi nhìn rõ lắm sợi cước trong trong như một tia nắng
    cong queo trên mặt nước. Cuộc sống thanh bình biết mấy, trong một dáng văng cần,
    trong một bóng mát của vành mũ lá…
    Lính ào qua cửa sổ, sỏi dưới chân cũng mang màu đỏ quạch của núi đồi. Nắng gắt,
    choang choáng. Ga này cũng không biết tên nữa. Chỉ có bưởi, quả bưởi trên rừng nhỏ
    như nắm tay và khô. Dùng tạm vậy. Tất nhiên là phải có tiền. Mệt, nhưng mọi người
    đều hồ hởi và hể hả. Khoan khoái ngồi trong bóng của ngôi nhà lợp nứa. Chẳng có
    nước. Trời nắng – giở bánh mì ra ăn, nghẹn lại nơi cổ họng… Tạm biệt, con tàu màu
    xanh, đi đi… Xa hơn nữa là Bố Hạ, cam Bố Hạ… là sông Thương… Còn ở đây, khét
    cháy…
    Được lệnh hành quân vào rừng. Chỉ 7km thôi.
    Con đường rừng đầu tiên ta đi, vai nặng ba lô mồ hôi ướt đẫm ngực, vai và sau lưng
    áo. Con đường dài và mất hút”.. Quay lại phía sau, cũng con đường… Con đường xa
    lạ và gập ghềnh…
    Khiếp, ba lô chứa gì mà nặng thế, oằn cả lưng anh bộ đội. Mảnh đồi ơi, ta chưa từng
    quen biết, nhưng hôm nay mồ hôi ta đã nhỏ xuống đất này.
    Nắng cứ chang chang, con chim gì cứ kêu làm rối lòng người. Đường dốc ngược lên
    trời.
    Những ngọn đồi này đây, gần một thế kỷ nay, là nghĩa quân của Hùm thiêng Yên Thế.
    Bà mế ơi, cây súng kíp này có phải của bố ngày xưa đóng khố theo cụ Đề đánh Pháp.

    Gian nhà trống trải trơ trọi trên đồi. Nước ở đây ít lắm. Nhòm xuống giếng cứ hun hút.
    Em có soi gương thì đi ra suối. Cái gương giếng nhà làm chóng mặt em…
    Cụ chủ già lắm rồi, mái tóc bạc trắng, da mặt hằn nếp thời gian. Cụ cởi trần trùng trục,
    quấn quanh mình một mảnh vải thô, hai bàn chân khoằm khoằm, đi vòng kiềng mà
    thật vững.
    Em gái học lớp 9 trên huyện, vắng nhà… Anh biết vậy vì áo hoa xanh của em không
    phơi trước cửa, mà gấp ở đầu giường. Núi rừng ơi, Yên Thế… Ta yêu người vì cây chò
    chỉ, cây lát, cây lim sừng sững, như bộ ngực của nghĩa quân…
    Ta nằm ngửa mặt cho những giọt nắng đỏ lanh tanh chạy từ kẽ lá. Gốc đa rừng, cái
    dốc của rừng, bàn chân nào đặt bước đầu tiên trên con đường hỏm hẻm luồn sâu
    trong lá để bây giờ đến lượt ta đi…
    Đường dài đến thế, ta đi mãi, mải miết trèo… Chỉ thấy ba lô nặng trên vai, chỉ thấy
    mây trắng cuốn về phương Bắc, thấy trời xanh ngút ngàn, và rậm rì là cây, là cỏ…
    Đã cuối mùa sim. Quả sim tím sẫm, ngòn ngọt. Có phải rừng chiều ta nên kéo dài
    mùa sim tím cho lính. Miệng cậu nào cũng lép nhép những sim. Xóm làng đây thưa
    thớt, mái nhà như một đốm nhỏ chìm giữa lá cây…
    Rải chiếu giữa trời là cây giàng giàng. Đừng bước vội hái hoa rừng mà gai đùm đũm
    doạ đấy. Ta đút vội vào ngực áo những chiếc lá rừng mà ta chưa biết gọi tên. Lá héo,
    mà thơm, phảng phất từ đâu đấy. Bạn có biết ta yêu rừng không vậy… Ôi, cái nắng
    trong rừng, rưng rưng nhựa. Ai đã viết những câu thơ để bây giờ ta đọc:
    “Da bàn tay thường chạm với da cây,
    Khuôn mặt người chạm vào mặt lá
    Rừng già ơi, rừng già kỳ lạ quá.
    Không có những ngày này hồ dễ đã quen nhau…”

    Chương 4
    4.10.1971
    “Anh hẹn em cuối tuần/Chờ nhau nơi cuối phố/Biết anh thích màu trời/Em đã bồi hồi,
    chọn màu áo xanh/Sáng chủ nhật trời trong/Nhưng trong lòng dâng sóng/Chẳng thấy
    bóng anh sang/Đêm thứ hai thu vàng/Đêm thứ ba thu tàn/Mùa đông thứ tư sang…”
    Bạn, đừng hát nữa, mà làm nao lòng bộ đội. Ta bước trên đồi bạch đàn, dưới chân là
    đá sỏi… Chao ôi, bầu trời xanh quá, màu áo thân yêu của ta đã xếp lại nơi nhà…
    Bạn, đừng hát nữa, mà làm nao lòng bộ đội. Ta bước trên đồi bạch đàn, dưới chân là
    đá sỏi… Chao ôi, bầu trời xanh quá, màu áo thân yêu của ta đã xếp lại nơi nhà… Bao
    giờ hai đứa hẹn nhau, hẹn ở đầu phố.. . ơi cái phố thẳng tắp những cây, những ngôi
    nhà. Chắc phố buồn lắm đấy, vì vắng bóng lũ trẻ đá cầu, đi câu con cá trắng… Vắng
    một giọng cười…
    Ao ước lắm, một lần gặp bạn, một lần nữa thôi cũng được ta sẽ nói hết, ta sẽ nói hết.
    Phố đừng cười nhé, dặn thế rồi mà lá cứ reo reo…
    Sao khi ở gần với phố, chẳng yêu phố nhiều hơn nữa, để bây giờ hối tiếc… ừ, thời
    gian… Bảy ngày là đủ một tuần. Không phải 7 ngày chờ mong nữa, mà dằng dặc…
    Đồi bạch đàn vẫn thong thả đồng ca bài hát cổ xưa của mình. Bạch đàn ơi, bỡ ngỡ gì
    mà em xoè lá? Hương bạch đàn, nhựa bạch đàn gợi điều mơ mộng quá… Em ở đâu
    chẳng về, anh dắt tay em… Qua đồi này, là tới đồi sim, tới đồi hạt dẻ. Sim cuối mùa,
    đừng bắt đền, làm môi em tím. Tím lưng đồi là màu tím hoa mua, không, chẳng phải
    đâu đấy là màu tím Huế, màu tím của em…
    Chao ôi, là nhớ… Mình tưởng tượng thấy bóng dáng yêu dấu đang nép sau thân bạch
    đàn ứ nhựa. Đừng giận gì nữa hết, xa nhau lâu rồi, còn có điều gì để giận… Hay P.
    giận vì lá thư cuối tháng 6 không được trả lởi? Không viết nổi P. ạ, không sao viết nổi,

    vì nỗi thương cảm sâu sa bóp nghẹt trái tim T…
    Khuôn mặt dịu dàng ấy, sao hôm nay im lặng thế, xôn xao trong lòng ta, là vần thơ
    của nhà thơ nào, lâu lắm không nhớ rõ, cứ lan lan…
    “Em đã nói biết bao lời,
    Với cha, với mẹ, với người xung quanh
    Với biển cả với cây xanh
    Sao em không nói với anh một lời?…”
    Ôi, giọng nói ấy, cứ làm ta rạo rực, giọng nói đánh thức trong ta những niềm xao
    xuyến đã chết lặng và làm cho hồn ta, trái tim ta tràn đầy hạnh phúc. Suốt từ hôm
    ấy… Hơi thở ấy đã phả vào từng sợi tóc, bàn tay thân yêu ấy đã xoa dịu cho ta nhưng
    vết thương. Ta tưởng chừng có thể tan biến đi, “thân cát bụi lại trở về cát bụi”… Ta
    muốn sụp xuống trước trái tim trong sáng ấy… ơi, thần tượng của ước mơ ta…
    Luôn luôn ta mơ ước, ta khao khát, một buổi sáng đẹp trời, nhớ một màu xanh kỳ dị,
    ta thức giấc trong hạnh phúc. Một người đang chờ ta, đang đợi ta. Đó là P., đó là P.
    yêu dấu…
    Ta khao khát một sớm mùa hạ, cùng nắm tay P. trong phòng đọc sách… Mùi sách
    quyến rũ hay gì mà làm ta xao xuyến thế?
    Ta thường mơ, một mùa nào đó, dẫu là mùa đông ướt át và nhầy nhụa… Ta đứng trên
    sân ga lắng nghe tiếng mưa đuổi nhau trên bức tường rêu xám. Lòng ta đâu có thế, ta
    đứng chờ…
    Và kia, P. yêu dấu của ta, từ trên tàu bước xuống, P. ùa vào lòng ta hay ta chạy đến dụi
    đầu vào gò má ấy, mấy năm trời còn gì nữa. P. hé miệng cười, nhưng ta đọc trong đôi
    mắt một màu ươn ướt. P. đưa ta về ngôi nhà 72, mới một lần ta hững hờ đến. Và P. sẽ
    kể cho ta vô vàn chuyện trên đất nước xa xôi.

    Còn ta, sẽ kể cho P., về chuyện đời, vê những đồi phi lao Hà Bắc, mà mỗi bóng áo
    đều gợi nhớ tới P., sẽ kể cho P. những “mảnh liềm trăng cong một nỗi nhớ nhau”…
    Ta sẽ kể cho P. rằng: P. ơi, một buổi họp trong đình, đình cũ kỹ, ống máng han rỉ, ta
    thèm được tay cầm khẩu súng loáng ngời ánh thép. Đạn vuốt nòng lắm, ta yêu khẩu
    AK này như yêu người nào ấy, khẩu súng ơi, súng sẽ gắn bó với đời ta, cùng sống chết
    với ta…
    Khi ấy, chắc chắn ta sẽ lại nói với P. rằng, cả cuộc đời ta, cuộc sống riêng tư của ta
    thuộc về P. vĩnh viễn. Từ lâu rồi, cuộc sống tâm hồn của ta tan biến đi trong tình cảm
    nồng nàn của P., cái lò lửa rực hồng ấy.
    Tới đây, ta mới hiểu thế nào là sự sợ hãi khi phải vĩnh viễn xa P. Đừng, lạy chúa, viễn
    cảnh ấy đừng bao giờ xảy ra cả, đừng, mà ta sống với ai, sống trơ trọi và cô đơn thế, ta
    làm sao sống nổi.
    Khổ vô cùng là nói thật chỗ yếu của lòng mình. Ta đâu muốn thế. P. bảo: “Thích thư
    T. lắm!” Chẳng phải thế đâu P. ạ, rồi sau này nhiều năm, quay nhìn về dĩ vãng P. sẽ
    cười và lúc đó hết cả “thích thư T. lắm”. Lúc đó, những lá thư mà T. viết bằng những
    trưa không ngủ, bằng đêm khuya yên lặng trên trường Tổng hợp, trên mỏm đồi xa xôi
    này, viết bằng cả tâm hồn, bằng tất cả nỗi xao xuyến của trái tim – chỉ là một mớ giấy
    tầm thường, cần phải vứt đi.
    Nhưng cũng chẳng sao, và cũng phải thôi. Vì ta chỉ thú nhận điều đó với riêng P., với
    một mình P. thôi. Ai chưa gặp ta cũng đều bảo ta ngớ ngẩn. Ai mới gặp ta cũng bảo
    rằng: Mình quý, mình thương. Ai ở với ta một thời gian cũng trỏ vào mặt ta mà bảo:
    Dở người!…
    Còn ta, chỉ cười, chỉ khóc. Ta bay trên mây, dưới gió. Ta đã gặp ai đâu, ngoài người ta
    yêu quý, mà có một lần ta đã xoa tay vĩnh biệt! Rồi đây, người ấy có tự xa rời ta
    không, không biết. Có phải đời ta là cầm AK đánh giặc. Đứng trên đồi phun lửa vào
    kẻ thù, dạn dày, thầm lặng… chẳng cần ai biết đến đâu. Rồi lúc nào ta chết, chỉ cầu

    xin một điều, trên nấm mồ của ta là cây bạch đàn; cây bạch đàn mảnh dẻ…
    Nằm trong lòng đất, giá còn được nghĩ, ta sẽ làm thơ, ừ, làm thơ, làm toán… Chà, lập
    dị, lập dị, ngớ ngẩn đến thế nữa cơ.
    Sao bây giờ ghét đời sinh viên đến thế. Thõng thẹo và ọp ẹp. Phải sống khỏe mạnh,
    dữ dội trong lửa đạn.
    Dân quý anh bộ đội. Bọn mình đi xin tre về làm nhà ở. Tre đấy, ngoài vườn, anh cứ ra
    mà chặt. Tre đực, tre cái, tre bánh tẻ đan lóng đôi, lóng mốt, đan sọt đeo đá sau lưng.
    Cây tre VN, lòng bà mẹ VN, có phải bây giờ ta mới hiểu đâu. Nhưng bây giờ ta mới
    được nhìn, được thấy…

    Chương 5
    24.10.1971
    Nằm mãi mà không ngủ được. Đêm nay là đêm thứ bao nhiêu rồi, mình thức dậy.
    Đồng hồ chỉ 11 giờ kém 15, Kisinhốp là mấy giờ rồi?
    Lâu lắm, 20 ngày đã qua, bận bịu và mệt mỏi, mình bỏ quên trang nhật ký, nhưng có
    lúc nào quên được Như Anh. Tháng mười, tháng sinh nhật – Tuần lễ sinh nhật đi qua.
    Ừ, trời cũng trong xanh hơn và lòng ta cũng mở ra đón gió. Tuổi 19, 20…
    Như Anh ở đâu, nắm lấy bàn tay T., gió rét về thổi tím ngọn bàng, đâu rồi hơi ấm của
    ta?
    Ai bảo những ngày này không đẹp, không thơ?
    25.10.1971
    Tháng 11 sắp đến rồi… Và như vậy, tháng 8 đã trôi qua…
    Buổi sáng đến chậm chạp.
    14.11.1971
    Đã 10 giờ đêm, chủ nhật. Đang buổi tiếng thơ của Đài Tiếng nói Việt Nam. Khi còn ở
    nhà, những buổi tiếng thơ này, mình ngồi bên bờ ao hay bên một cái giao thông hào
    ngập nước, nghe những giọng ngâm quen thuộc. Thế mà hôm nay, ở đây, ở cái đất Hà
    Bắc này, mình ngồi viết, vừa lắng tai nghe… Kim Cúc đấy, với giọng hơi mượt mà,
    chải chuốt, Kim Dung, Trần Thị Tuyết. Nghe quen như giọng người hàng xóm.
    Buổi trưa, vừa gửi thư cho P. Có lẽ đó là cái thư cuối cùng ở đất Hà Bắc. Từ ngày mai,
    không được ra khỏi chỗ đóng quân nữa. Không biết đi lúc nào – Lo lắm, liệu P. có
    hiểu và thông cảm cho không – Biết làm sao được, khi bản thân mình không thể chủ

    động trong chuyện đó.
    Gặp Dũng, bạn học từ lớp 8 – Dũng học Đại học Y khoa, và bây giờ ở C.17. Dũng
    cũng tốt đấy, hiểu mình và rất quấn quít. Vẫn gặp trên sân bóng, xung quanh là phi
    lao, có con đường chui qua, đỏ bụi. Dũng hỏi thăm hết bạn bè. Xuyên đi Bungari rồi.
    Châu đi Cuba, Dung đi Tiệp hay Đức gì đó… Thường thôi… đừng coi trọng họ, đi
    nước ngoài thì người ta thích, nhưng ít ai thích người đi nước ngoài, có cái gì hơi là
    lạ…
    Dũng nhắc cho mình chuyện lớp, trường, chuyện thằng Khang, Nhữ Đình Huân, cái
    tụi nghịch như quỉ sứ – Ngô Bình nữa, nó đang đóng ở Quảng Bình, bị thương và đã
    được kết nạp Đảng hay sao ấy… Nhanh quá, mới đó mà nay mỗi đứa một phương
    trời. Mình nhớ mấy câu thơ tặng Bình khi tiễn Bình đi bộ đội hồi cuối lớp 10…
    Dũng hỏi mình về chuyện đi nước ngoài. Khơi dậy làm gì chuyện ấy. Nó khiến mình
    buồn bã suốt một thời gian dài. Thật hèn hạ và xấu xa.
    Mình kể cho Dũng cuộc sống từ khi hết lớp 10. Dũng cũng đồng ý với mình và tỏ ra
    hài lòng với cách sống ấy. Kể cũng lạ, sao Dũng dễ dàng đồng ý với ý kiến của mình
    thế.
    Dũng bảo mình cần đoàn kết sâu, rộng với bạn bè hơn nữa. Dũng bảo: “Hãy biết liên
    kết với các bạn bằng những mặt tốt của họ. Nên triệt để nối mình với các bạn bằng cái
    tốt đó”. Kể cũng hay. Mình sẽ cố gắng.
    Đá bóng với B1. Gió mạnh. Dạo còn ở trường, mình với Thanh hay ở cùng một bên,
    bây giờ Thanh ở B1, còn mình lại sang B2. Đá bóng mà nhớ trường, nhớ kỷ niệm đến
    thế – ơi, Yên Hoà B… đâu rồi?
    Buổi tối ba má và anh của Minh lên chơi. Còn mình thì chẳng có ai lên cả – Buồn và
    nhớ gia đình vô cùng. Nhưng mình không tán thành chuyện lên thăm đó. Mình ngồi
    nghe rất lâu chuyện hai bác và anh Bằng nói. Chẳng có gì mà phải lên tận đây cả –
    Nhớ Minh ư, mà sao có vẻ thờ ơ tệ. Không giống trong tưởng tượng của mình chút

    nào? Hay là tại mình không ở trong tình trạng đó nên mình không biết, không cảm
    hiểu?
    Không, rõ ràng không. Gia đình đi từ 5h30 sáng mãi trưa mới đến nơi. Mang cả cơm
    nắm và thức ăn định ăn ở Bắc Giang, nhưng không hiểu sao lại về tận đây ăn. Buổi
    trưa, bọn mình ăn cơm, phải sang chỗ anh Hinh ăn tập trung. Mình chào gia đình và
    Minh cũng đi ăn – ở nhà còn ba má và anh Bằng – Sao hai bác và anh không gọi
    Minh ở lại ăn cùng.
    Không hiểu ra sao cả – Lạ thật – Gia đình mình thì nhất định không thế rồi.
    Nói chung, mình chưa hiểu rõ lắm về Minh và gia đình cậu ta. Biết chung chung, đại
    khái.
    Tối nay, liên hoan tiểu đoàn, ăn cơm muộn nên được phép nghỉ. Mình nói chuyện với
    bà.
    Bà kể chuyện “Duyên Tiên”, chuyện “Trương Chi”,v.v… làm mình như trở lại trẻ con.
    Thương anh Đổng Vĩnh ra gốc cây đề và khóc, ngóng lên trời tìm nàng Bảy.
    Nàng tiên ơi, tấm lụa trắng đâu rồi, và gốc cây đề ấy ở đâu trong rừng sâu kia?
    “Mùa xuân hoa nở, thiếp về
    Mời chàng ra gốc cây đề nhận con…”
    Bà bảo mình đọc “Bầm ơi”, mình đọc, gió lành lạnh và mình thương mẹ quá, mẹ ơi…
    Bà đã 60 tuổi – Bà bảo, năm nay là “năm tuổi”, mẹ mình đã qua tuổi 49 và 53 rồi,
    không bị làm sao là mừng lắm. Lạy trời cho mẹ sống lâu, sống mãi và đừng ốm đau gì
    cả. Thương mẹ lắm mà không biết làm gì. Thù thằng Mỹ quá, phải giết hết nó đi.
    15.11.1971

    Thằng Mỹ, nó là cái gì mà mơ hồ như thế? Đi bộ đội, mình cảm thấy hơi mông lung
    trong việc nhìn nhận kẻ thù. Hố bom còn toác ra ở trên đồi. Và cảnh làng xóm tiêu
    điều, bị tàn phá ngày 29-2-1968, ta đâu có quên. Mặt mũi thằng Mỹ thế nào? Hẳn đó
    cũng là khuôn mặt người bị bóp méo xộc xệch. Hẳn đó là bộ mặt nhăn nhúm trước
    ánh sáng mặt trời.
    Đêm ấy, thật đau lòng. Hồi chiều, bị ném 40 quả bom. Điện bị đứt lung tung. Làng
    xóm chìm trong tang tóc và bóng đêm. Ở ngay trước ngõ là một bát hương hiu hiu
    khói. Anh Phúc bị bom tiện đứt cả chân tay, nằm trong chiếc quan tài đỏ, ngọn đuốc
    nứa thổi phừng phừng, cái xe bò lăn lộc cộc… Sao giống “chiếc quan tài” như thế.
    Không, suốt đời ta không quên, ta không quên cảnh em bé miền Nam đập tay lên
    vũng máu. Dưới tay em lẽ ra là chậu nước trong mát – cái biển mênh mông của tuổi
    thơ hồn nhiên, nhí nhảnh…
    Thằng Mỹ, nó thế nào? Trời ơi, sao lâu quá. Bây giờ cái khao khát nhất của ta – cái
    day dứt trong ta là khi nào được vào miền Nam, vào Huế, Sài Gòn – xọc lê vào thỏi
    tim đen đủi của quân thù.
    Ta ngồi đây, thanh bình như thế. Nhưng ở cuối trời Tổ quốc, bao nhiêu người con ưu
    tú của dân tộc đang đổ máu, đang giập gãy từng khúc xương, đang bị kẻ thù đày đọa
    và các đồng chí của ta, anh giải phóng quân kiên cường đang nín thở đợi giờ xung
    trận, đang đói rét và đau nhói vết thương trên một cánh rừng già.
    Vậy mà, lại đến giờ đi ngủ. Những cơn gió liu riu trên cành tre đưa ta vào cơn mơ – Ta
    lại trở về với cái ngõ nhỏ của mình… Lạc lõng ư? Có lẽ nào!
    Ta biết giấu mặt vào đâu, vào gấu quần hay gấu áo, khi đường Trường Sơn không có
    dấu chân ta? Khi cả cuộc đời ta chưa có cái niềm vui mãnh liệt của người chiến thắng,
    cắm cờ Tổ quốc trên cả nước thân yêu.
    Phạm Tiến Duật, Triệu Bôn… Các anh đêm nay ở đâu trên Tổ quốc? Các anh có viết
    những bài thơ, những truyện ngắn vào giờ này? Ôi, những nhà thơ, nhà văn – chiến

    sỹ, ta gặp nhau trên cùng một ước mơ làm nhiều cho Tổ quốc. Chúng ta có mặt trên
    trận tuyến ác liệt nhất, khi đất nước đánh thù, có gì tự hào hơn nữa.
    Ta bỗng nhớ câu thơ của ...
     
    Gửi ý kiến

    Sách không dạy ta sống thay ai, nhưng âm thầm chỉ cho ta cách sống sâu hơn, chậm hơn và có trách nhiệm hơn với chính mình.

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC LÊ VĂN TÁM, T. THANH HOÁ !