Sách nói Chuyện của Bắp Ăn Mơ Và Xóm Đồi Rơm - Cao Khải An
MÃI MÃI TUÔIT 20

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Ý Nhi
Ngày gửi: 08h:42' 13-04-2024
Dung lượng: 831.0 KB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Ý Nhi
Ngày gửi: 08h:42' 13-04-2024
Dung lượng: 831.0 KB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
Nguyễn Văn Thạc
MÃI MÃI TUỔI HAI MƯƠI
Dự án 1.000.000 ebook cho thiết bị di động
Phát hành ebook: http://www.SachMoi.net
Tạo ebook: Tô Hải Triều
Ebook thực hiện dành cho những bạn chưa có điều kiện mua sách.
Nếu bạn có khả năng hãy mua sách gốc để ủng hộ tác giả, người dịch và Nhà
Xuất Bản
Chương 1
2-10-1971
Nhiều lúc mình cũng không ngờ nổi rằng mình đã đến đây. Không ngờ rằng trên mũ
là một ngôi sao. Trên cổ áo là quân hàm đỏ. Cuộc đời bộ đội đến với mình tự nhiên
quá, bình thản quá và cũng đột ngột quá.
Thế là thế nào? Cách đây ít lâu, mình còn là sinh viên. Bây giờ thì xa vời lắm rồi
những ngày cắp sách lên giảng đường, nghe thầy Đường, thầy Đạo… Không biết bao
giờ mình sẽ trở lại những ngày như thế. Hay chẳng còn bao giờ nữa! Có thể lắm. Mình
đã lớn rồi. Học bao lâu mà đã làm được gì đâu, đã sống được gì đâu? Chỉ còm cõi vì
trang sách, gầy xác đi vì mộng mị hão huyền.
Hai mươi tám ngày trong quân ngũ mình hiểu được nhiều điều có ích. Sống được
nhiều ngày có ý nghĩa. Dọc đường hành quân, có dịp xem lại lòng mình, soát lại lòng
mình.
Mình bắt đầu sống có trách nhiệm từ đâu, từ lúc nào? Có lẽ từ 9-3-1971, tháng ba của
hoa nhãn ban trưa, của hoa sấu và hoa bằng lăng nước.
Những người bạn thân yêu của mình đã lần lượt đi học xa hết cả rồi. Mỗi người một
phương. Các bạn đã đi lên phương Bắc. Còn mình, sẽ đi về phương Nam…
Đêm Hà Bắc thật thanh bình. Thèm quá, nghe một tiếng thì thào của cánh gió trên đồi
bạch đàn… Mình đã sống trên 20 ngày bên hồ cá Yên Duyên, Yên Sở. Ở đó có những
đường cây đẹp tuyệt. Mình đã chụp tấm ảnh bộ đội đầu tiên dưới một gốc dừa, sau
lưng là hồ cá. Hoàng hôn thong thả thay màu nước. Và ngôi sao Hôm trầm tư, kiêu
hãnh đã mọc trên trời. Cuộc đời bộ đội đâu dễ dàng như thế. Mình đã khóc, nước mắt
giàn giụa, khi các bạn tiễn mình đi, khi buổi lễ kết thúc, khi bài Quốc ca rung bầu
không khí trong lành trên Trường Tổng hợp. Bản nhạc này đây, bao lần mình đã nghe,
đã cúi đầu suy nghĩ. Nhưng hôm nay mới thực hiểu, thực cảm một điều giản dị: Bài
Quốc ca của ta, của ta!
Khóc, không phải vì hèn yếu, không phải vì buồn bã, mà vì xúc động. Vì buổi chia
tay này thiêng liêng quá. Những người bạn thân yêu nhất của mình không thể tiễn
mình đi được. Và bàn tay ấy, và đôi mắt ấy, giọng nói ấy… Lên xe rồi, xe nổ máy. Xe
VN sản xuất, tiếng động cơ như tiếng tim mình vậy. Nghẹn thắt vì một cảm giác khó
tả, mình ngước nhìn lần cuối cùng cánh cửa sổ, nơi hằng ngày mình bò ra, nhìn xuống
lòng đường. Khoảng trời nhỏ của riêng mình đó. Một hôm nào, những hôm nào mình
mong chờ nhìn thấy bạn của mình đạp xe qua, để mình gọi… Bây giờ, là chia tay, xe
lăn bánh, êm ru, xe đi êm, mà bọn mình xô vào nhau, chen nhau thò tay ra cửa. Ngoài
kia, những khuôn mặt gần gũi, tuy có người chẳng bao giờ mình trò chuyện, chẳng
bao giờ mình nghĩ rằng có họ sống trên đời… ở đâu, khuôn mặt thân yêu ấy? Bạn đi,
mình không gặp được.
Đêm 26.7 chỉ là những gương mặt xa lạ, đầy vẻ háo hức và tự mãn. Rối loạn, và
thoảng một thứ mùi khó chịu. Mình không dám đứng lâu và đành chịu một nỗi ân hận
giày vò… Mình đi, khi bạn đang bước vào năm học mới. Bước lên giảng đường, bạn
có nhớ tới mình không?… Đừng, hãy để tâm hồn trọn vẹn thanh thản, mà đón một
mùa xuân của lòng mình. Trang đầu của cuộc đời sinh viên, đừng để rơi một giọt
mực, đừng để loang lổ một vết ố vàng…
Xe ơi, lao nhanh hơn, cho ta chóng tới gia đình lớn. Nơi ta gửi gắm cả thời thanh xuân
của mình…
Hơn cả khi trên tay phập phồng tờ quyết định. Vui sướng, tự hào, cảm động làm sao
khi trên người ta là bộ quân phục xanh màu lá. Anh sinh viên quen màu trắng áo của
cánh cò, quen màu xanh da trời tháng nắng… Mình trút bỏ không thương tiếc, và trìu
mến khoác lên mình màu xanh ấy. Màu xanh của núi đồi và thảo nguyên, của ước mơ
và hi vọng. Màu xanh bất diệt của sự sống.
Trên mũ là ngôi sao. Ta lặng ngắm ngôi sao, như hồi nào ta chỉ cho bạn: Kia là sao
Hôm yêu dấu… Nhưng khác hơn một chút. Bây giờ, ta đọc trong ngôi sao ấy, ánh lửa
cầu vòng của trận công đồn, màu đỏ của lửa, của máu…
Ta thấy trong màu kỳ diệu ấy, có cả hồng cầu của trái tim ta….
Ai ra đi cũng với lòng say lý tưởng, và nhẹ nhàng bên trong là chút ước mơ. Buổi gác
đầu tiên là đêm trăng sáng, là bài thơ, là một trang nhật ký… Sung sướng và hãnh
diện biết bao, ơi xóm làng yêu qúi, ngủ yên, ngủ yên, có anh bộ đội thức canh trời.
Những mái nhà nghiêng như mí mắt thân thương, nhắm ngủ ngon lành… Ta bước
nhẹ, lâng lâng một mùi hương quen thuộc. Bưởi đã cuối mùa, ổi đã cuối mùa… Cây lá
đang dồn nhựa để trổ ra một mùa quả chín…
Đồng đội đọc cho ta nghe những vần thơ trong trẻo:
“Gậy Trường Sơn đưa ta lên đường đánh Mỹ.
Nồi cơm Thạch Sanh xưa là chuyện ước mơ.
Nay là lòng dân với người chiến sỹ”.
Ta đã đọc ở đây những cái tên lần đầu ta đọc, lần đầu ta biết. Cái tên ấy, những cái tên
ấy là một nốt sol điềm tĩnh, nốt la nhí nhảnh… là 7 cung bậc của bản đại hợp xướng
mà dân tộc ta đang cất lên tiếng hát…
…”Bộ đội đi rồi, chỉ khổ dân, lại nhớ mãi thôi…”
Ai đã nói với mình điều ấy, khi trời đã rạng sáng? 9g30 phải vào màn, nhưng ta thức
trọn một đêm, với bốn bề đang rạng sáng, mặt trời mọc, và em bé đã ríu rít ở hàng ô
rô xén gọn. Một tiếng võng kêu, một vệt nắng kẻ ở ngoài hiên, một con nhện giăng tơ
trên cành ổi… Có gì khác với nơi ta ở, nơi ta gửi gắm tuổi thơ. Sông Tô Lịch đen
ngòm chảy rụt rè trong thành phố, tới đây, vẫn rụt rè như cây trinh nữ… “Mắc cỡ gì
mà khép cánh ư em?”
Ta đã bao lần đi bên sông Tô Lịch, trước kia ta khó chịu vì mùi bùn oi nồng… Ta đã
mấy lần hành quân bên sông Tô Lịch, ta yêu sông vì bọt tăm sủi, vì màu xanh non,
tươi trẻ có công vun đắp của dòng sông. Có phải lòng sông đã quên mình nhơ bẩn, đã
chịu lòng mình mang mùi vị ấy để đem cho đời những cọng rau muống tươi kỳ lạ, để
đem màu hồng tươi cho thành phố. Sông Tô ơi, mai trở về, ta khơi lại dòng sông, cho
tuổi thơ vẫy vùng, cho con thuyền anh chở em đi, đi vòng quanh thành phố…
Hôm nay, đi bên sông, dưới cái nắng chang chang, trên vai là balô con cóc của Trường
Sơn. Không thể nói là nhẹ được. Quai đeo thít vào vai, ép lồng ngực lại. Đau và bỏng
rát, khó thở. Đè lên hông, ép vào lưng, ướt đầm đìa là mồ hôi ta đấy. Ta đặt balô, và
cười luôn được. Ừ, cuộc đời ta là thế. Phải cười và phải vui. Bài hát ta yêu là Trường
Sơn Đông – Trường Sơn Tây… Con đường gánh gạo không có muỗi, nhưng không
phải là nhẹ nhõm. Vai sinh viên, mặc dù tâm hồn luôn bay bổng, nhưng nên thơ hơn
cả những vần thơ là cái nghiến điếng người trên vai, là cái nắng bàng hoàng, dữ dội.
Yên Sở ơi, ta yêu Yên Sở như làng quê ta vậy. Nơi trú quân đầu tiên của đời ta. Nơi ta
gọi bạn của mình là đồng chí. Nơi em thơ gọi ta là chú bộ đội, và những cô gái làng
gọi ta: Chào các anh bộ đội.
Em đừng cười anh vì bộ quân phục thùng thình. Mẹ ta nghèo, rau cháo nuôi ta, đau
khổ bốn nghìn năm, chắt chiu từng hạt gạo nuôi ta. Để bây giờ ta lớn. Phải lớn lên,
phải to ra cho kịp tầm cao của lịch sử. Cánh tay này sẽ bóp nghẹt cổ quân thù.
Đêm đầy sao, chi chít những sao, như lòng mẹ, như lòng em đứng ở bên đường. Hồ
nước trong kỳ lạ. Sao mẹ kể, những cái hồ ấy là nước mắt? Đau khổ nghìn năm,
những tròng mắt nào đã đầm đìa để tích tụ thành hồ… Mà hôm nay đời vui như thế?
Con cá dưới hồ cũng quẫy, cũng đớp ánh trăng và chào anh bộ đội… Cá, cá ơi, đừng
cười anh nhé, đừng kể cho những cô gái trong làng, chuyện bọn anh sợ đ*********,
khi các cô ngồi bên bờ này nhắc đến các anh… Quên làm sao vườn nhãn um tùm, nơi
ngày đầu ta ngồi yên nghe giảng bài chính trị… Đầm ấm quá thôi, trên là cây lá, xanh
xanh, lấp lánh ngôi sao trên mũ, lung linh những vì sao trên cổ áo, đỏ như lửa là quân
hàm, bùng cháy những ngọn đuốc là cháy tim ta… Ê a, ê a là lời em thơ tập đọc. Cô
gái nào mà dáng thanh thanh giống người ấy thế… Kỷ niệm lắng sâu, theo ta vào trận
đánh…
Những ngày hôm nay, hôm nay sao khỏi bồi hồi. Nồi nước mẹ đun sao thơm kỳ lạ. Có
phải đắng cay cả một đời, nên bát nước mẹ đưa ngọt ngào đến thế? Chia tay với con
mà mẹ vẫn cười, âu yếm…
Hành quân từ 5 giờ chiều đến 9 giờ đêm, đẹp lắm. Trăng đầu tháng còn đỏ quạch, cứ
gợi cho ta nhớ một cánh buồm. Đấy, cánh buồm đỏ thắm, đựng đầy gió, gió cuốn
những ngôi sao đêm, ùa vào lòng thuyền và đẩy thuyền trôi trong tâm tưởng… Ngủ
bên bờ một dòng sông, có những đường dừa thật đẹp.
Trời trong quá, dây điện chăng như những dòng kẻ của một trang vở học trò. Đừng
bấm đèn trêu họ, cứ để họ nói chuyện với nhau. Anh con trai sắp xa người bạn của
mình. Cô ta lại về trường học tiếp. Chỉ còn vài tiếng nữa thôi là còi tàu, là chuyển
bánh. Anh dặn gì cô ấy, có lẽ chẳng dặn gì đâu, và chỉ mỉm cười… Cậu nào đã cất
tiếng hò:
“Tiếng ai như tiếng chuông vàng
Tiếng ai như tiếng cô nàng của anh…”
Còn tiếng này thì đúng là giọng anh Châu rồi, anh “Mộng Châu”:
“Anh yêu em lắm em ơi,
Nhưng anh chẳng dám ngỏ lời với em…”
Lính khoái, cười khúc khích… Những vì sao dưới sông cũng va vào nhau… Những
cánh dừa cũng nắm tay nhau tinh nghịch bay qua bầu trời thanh bình. Tiếng động cơ
như xay lúa.
Đêm đẹp vô cùng, ta lắng nghe đất thở. Anh bạn nằm bên rọi đèn pin tìm gì, có phải
anh tìm con dế đang cần cù dạo bản nhạc đêm của Pritsvin? Không cưỡng nổi, ta lấy
giấy và viết thư cho Như Anh…
Chương 2
“12 giờ đêm 28/9/1971”
Như Anh có thích đọc những dòng này hay không? T. viết cho Như Anh khi đang
nằm trên bờ một con sông. Sông đẹp lắm. Đêm rất khuya. Vành trăng đỏ quạch sắp
lặn xuống chân trời.
Đồng đội của T. người thì đang ngủ, người đang nói chuyện. Dưới cuốn sách mà T.
kê, có 2 lá thư sắp gửi cho Như Anh. Sương ướt đẫm vải nhựa. Không một ngọn đèn.
Chỉ những vì sao, soi cho T. viết những dòng này.
Bắt đầu cuộc đời bộ đội là thế này đây. Tối quá, nhưng cứ viết. T. thích thế. Rồi đây,
sẽ có nhiều lúc T. viết thế này. Chắc xấu như ma lem.
(Hành quân đây – Chào Như Anh nhé – Thật tiếc)…
Đến ga rồi, ga Văn Điển. Nhưng nào có tàu. Mệt quá, lại phải gánh nồi quân
dụng.Chẳng chịu được nữa, mình ngồi bệt xuống đất, dựa vào ba lô mà ngủ. Suỵt, nói
giấu các “o văn công” chứ, thật đúng với câu: “Má văn công, mông bộ đội”!. Những
chuyến tàu đêm chạy từ Hà Nội đến, cánh cửa, ô cửa đầy thương nhớ. Tàu phì ra
những cuộn khói, những đám mây nhân tạo. Mặc kệ, tớ còn ngủ. Đợi một chuyến đi
xa…
Sau cùng thì xếp được ba lô lên tàu. Tàu T. Q, khá rộng. Mình chẳng có chỗ đứng,
đành đứng trước chỗ đi giải. Thật bất tiện. Nhưng chẳng sao hết.
Đêm âm u quá, cánh đồng vắng lặng, chỉ nghe tiếng gió, tiếng con tàu thở phì phì. Kia
rồi, Hà Nội, là phố Nguyễn Du lấp lánh sau bức tường của ga Hàng Cỏ. Thôi, chào Hà
Nội, 3 hoặc 4 tháng sau ta lại về, ta lại hành hương trên các đường phố vắng gắn bó
với cuộc đời ta…
Sông Hồng ban đêm, mùa nước, cầu phao dập dềnh, ta nhận ra cầu vì ánh điện.
những con mắt chói ngời kia bảo ta, đó là bờ… Chao ôi, dòng sông Ănggara xa xôi
chảy qua thành Iêkut, đêm nào có giống đêm nay? Ta như gặp lại khuôn mặt thân yêu
ấy. Giói đừng thổi mà tóc lại bay rối, lại phải lấy lược chải hoài… Gió đừng thổi, hơi
lành lạnh đấy, mà áo thì mỏng về nhà lại ốm…
Bắt đầu xuất hiện bạch đàn dọc theo đường tàu chạy. Cây bạch đàn ta yêu, ta quí. Cây
bạch đàn chép lại cho ta một thời thơ ấu đầy chất thơ, và say nồng mùi cỏ mật. Bạch
đàn ơi, chạy theo anh nhé, chạy theo tàu của anh và sống mãi với anh. Khi nào anh
nằm xuống, bạch đàn hãy rủ lá, run rẩy và ru cho anh ngủ. Cây bạch đàn cứ cao lớn
với đời, cứ hát cho đời bài ca về thầy giáo Đuy Sen và cô học trò giỏi Altưnai, bài ca
về cây phong lá đỏ. Mặt trời mọc rồi, các ô cửa của toa tàu xanh màu quân phục. Em
nhỏ trên đồi đi học đấy ư, mà sao khăn quàng bay và bàn tay nhỏ cứ vẫy các anh… Ta
bỗng nhớ một đoạn thơ T.H:
“Các em ơi, đã học chưa
Các anh dựng cho em trường mới nữa.
Chúng nó chẳng còn mong giội lửa
Trường của em đứng giữa đồi quang
Tiếng các em thánh thót quanh làng…”
Ta đã đi qua vùng đồi trung du của Bắc Thái, dấu vết của chiến tranh, của lụt lội còn
hằn rõ ở đây. Ta đã nghĩ gì khi nhìn và lặng người bên hố bom thù đào sâu gần khu
luyện gang thép. Mẹ ơi, ở đây con đã hiểu chiều sâu của đất. Cuộc sống thanh bình
chỉ cho ta giá trị chiều rộng, chiều dài của mảnh sân con thường đùa nghịch, của
mảnh vườn tháng 10, mía đang ngọt dần lên ngọn, của ngôi nhà ấm cúng con ngồi
viết bài thơ ca ngợi đất. Chưa biết rằng, đất có chiều sâu, mà hôm nay vế bom thù đã
khơi dậy cho con.
Ga Lương Sơn hay ga gì đó, xuống tàu và vào bãi cỏ rộng nghỉ. Khoảng 9 giờ rồi, cỏ
may, cô gái nào xưa níu bước chân chàng trai trẻ, nay gài vào quần các anh bộ đội. Cô
muốn thêu gì lưu niệm? Đêm nay, bên bếp lửa nơi trú quân, nhặt cỏ may và chắc có
anh chàng mơ mộng lại nghĩ hoài một người bạn gái, giỏi nghề may vá… “Em khâu gì
vào chiếc áo của anh?”…
Và cả cây mắc cỡ, cô gái ngây thơ, khẽ chạm vào là nép mình xấu hổ, các anh lính trẻ
lại cứ trêu hoài…
Chuyển tàu, lính xô nhau lên chiếm chỗ gần cửa sổ. Ừ thế mà Vũ Đình Minh lại viết:
“Người bốn phương nhìn nhau qua ánh mắt/ Một chỗ ngồi cũng nhường nhịn cho
nhau”!
Tớ khoái không để đâu cho hết, vì được ngồi bên cửa sổ. Tàu chạy rồi, gió thốc vào
mát lạnh. Từ đây, rừng rậm rạp hơn, đồi kề ngay đường tàu chạy. Người kiếm củi trên
đồi cứ vẫy…
Chương 3
3.10.1971
(Suốt đêm qua không ngủ được. Cứ thức hoài vì những cảm giác nôn nao, rạo rực. 1
giờ sáng, khuya quá rồi. Phải vào màn ngủ. Ừ, cuộc sống bên trong của con người
thật kì lạ, cứ nhớ, cứ nhớ… Nhớ ai, nào biết… mà sao không ngủ được).
Rừng chẳng nên thơ như ta tưởng tượng. Cây cao, xù xì nom rờn rợn. Vực sâu, dây leo
chằng chịt, chứa đựng biết bao điều bí ẩn. Cuộc sống của ta sẽ kéo dài ở đó.
Dân tộc ở đây là gì? Mán hay Thổ? Ta chỉ mong nhìn thấy một cô gái Sán Dìu, quần
đỏ, giữa mênh mông đồi cây. Bỗng nhớ một câu thơ có vần: Gà đánh trống…/ Khỉ leo
thang/ Có những cô nàng/ Váy đỏ yếm trắng… ” Sao lại nhớ đến câu ấy? Bạn hỏi vậy.
Mình chẳng biết nữa. Hình như màu sắc, âm thanh, hình khối hoà trộn trong đó phù
hợp phần nào với những cảnh mà mình đang chứng kiến.
Ai đã xây nên những đường hầm xuyên núi, bàn tay của ai đã lần lữa trên những mặt
đá này. Ngồi bên cửa tàu chạy nhanh, gió thốc vào lành lạnh, cả hơi đất, hơi đá ẩm
ướt, âm u. Toa tàu tối om. Không ai hé răng. Vì sợ hay vì lạ. Còn mình thì lạ, cứ thò
đầu qua cửa, nhìn về phía cửa hầm. Bụi than bám đen cả mặt. Con tàu phóng thanh
rung lên bần bật. Ánh nắng đây rồi, hối hả trên từng khuôn mặt. Ngoảnh lại phía sau,
là ngọn đồi con tàu vừa chui qua. Vẫn cây lá ấy, bình thản vô tư lự… “Chuồn chuồn
kim thân dài, cánh đỏ/ Em khâu gì trong áo xám của đồi cây… “
Có lẽ là như vậy. Yên lặng, bình thản trên đó, để dưới đáy sâu của nó, có con tàu băng
băng chở đi một nguồn sinh lực mới…
Tàu ơi, cứ chạy đi, chạy nhanh đến những vùng đất nước xa xăm. Kìa là cây vào, cây
bương, khác với lùm tre quen thuộc. Cái cây gì mà cao lạ lùng, trong suốt cả cuộc đời
nó đã tiễn mấy chuyến tàu qua…
Bạn thì thào bên tai: Suối đấy, trong lắm. Nhưng đừng vội tắm… Ờ, dòng suối trong
vắt, róc rách chảy dưới chân đồi. Những viên sỏi xanh đỏ tím vàng óng ánh đâu rồi?
Mà chỉ thấy những chiếc lá úa vàng xoáy tròn và chìm nghỉm… Đám mây ơi, mây trôi
về đâu? Nhắn giùm ta tới người bạn ấy, rằng: ta nhớ lắm, nhớ bồi hồi. Ta gục đầu
xuống bàn… Rồi sau đó thì sao, P. không biết nữa, P. không muốn biết nữa, vì khi đó,
T. gần quá, đến nỗi không thể chấp nhận được câu trả lời ấy…
Anh câu gì bên dòng suối ấy? Tôi nhìn rõ lắm sợi cước trong trong như một tia nắng
cong queo trên mặt nước. Cuộc sống thanh bình biết mấy, trong một dáng văng cần,
trong một bóng mát của vành mũ lá…
Lính ào qua cửa sổ, sỏi dưới chân cũng mang màu đỏ quạch của núi đồi. Nắng gắt,
choang choáng. Ga này cũng không biết tên nữa. Chỉ có bưởi, quả bưởi trên rừng nhỏ
như nắm tay và khô. Dùng tạm vậy. Tất nhiên là phải có tiền. Mệt, nhưng mọi người
đều hồ hởi và hể hả. Khoan khoái ngồi trong bóng của ngôi nhà lợp nứa. Chẳng có
nước. Trời nắng – giở bánh mì ra ăn, nghẹn lại nơi cổ họng… Tạm biệt, con tàu màu
xanh, đi đi… Xa hơn nữa là Bố Hạ, cam Bố Hạ… là sông Thương… Còn ở đây, khét
cháy…
Được lệnh hành quân vào rừng. Chỉ 7km thôi.
Con đường rừng đầu tiên ta đi, vai nặng ba lô mồ hôi ướt đẫm ngực, vai và sau lưng
áo. Con đường dài và mất hút”.. Quay lại phía sau, cũng con đường… Con đường xa
lạ và gập ghềnh…
Khiếp, ba lô chứa gì mà nặng thế, oằn cả lưng anh bộ đội. Mảnh đồi ơi, ta chưa từng
quen biết, nhưng hôm nay mồ hôi ta đã nhỏ xuống đất này.
Nắng cứ chang chang, con chim gì cứ kêu làm rối lòng người. Đường dốc ngược lên
trời.
Những ngọn đồi này đây, gần một thế kỷ nay, là nghĩa quân của Hùm thiêng Yên Thế.
Bà mế ơi, cây súng kíp này có phải của bố ngày xưa đóng khố theo cụ Đề đánh Pháp.
Gian nhà trống trải trơ trọi trên đồi. Nước ở đây ít lắm. Nhòm xuống giếng cứ hun hút.
Em có soi gương thì đi ra suối. Cái gương giếng nhà làm chóng mặt em…
Cụ chủ già lắm rồi, mái tóc bạc trắng, da mặt hằn nếp thời gian. Cụ cởi trần trùng trục,
quấn quanh mình một mảnh vải thô, hai bàn chân khoằm khoằm, đi vòng kiềng mà
thật vững.
Em gái học lớp 9 trên huyện, vắng nhà… Anh biết vậy vì áo hoa xanh của em không
phơi trước cửa, mà gấp ở đầu giường. Núi rừng ơi, Yên Thế… Ta yêu người vì cây chò
chỉ, cây lát, cây lim sừng sững, như bộ ngực của nghĩa quân…
Ta nằm ngửa mặt cho những giọt nắng đỏ lanh tanh chạy từ kẽ lá. Gốc đa rừng, cái
dốc của rừng, bàn chân nào đặt bước đầu tiên trên con đường hỏm hẻm luồn sâu
trong lá để bây giờ đến lượt ta đi…
Đường dài đến thế, ta đi mãi, mải miết trèo… Chỉ thấy ba lô nặng trên vai, chỉ thấy
mây trắng cuốn về phương Bắc, thấy trời xanh ngút ngàn, và rậm rì là cây, là cỏ…
Đã cuối mùa sim. Quả sim tím sẫm, ngòn ngọt. Có phải rừng chiều ta nên kéo dài
mùa sim tím cho lính. Miệng cậu nào cũng lép nhép những sim. Xóm làng đây thưa
thớt, mái nhà như một đốm nhỏ chìm giữa lá cây…
Rải chiếu giữa trời là cây giàng giàng. Đừng bước vội hái hoa rừng mà gai đùm đũm
doạ đấy. Ta đút vội vào ngực áo những chiếc lá rừng mà ta chưa biết gọi tên. Lá héo,
mà thơm, phảng phất từ đâu đấy. Bạn có biết ta yêu rừng không vậy… Ôi, cái nắng
trong rừng, rưng rưng nhựa. Ai đã viết những câu thơ để bây giờ ta đọc:
“Da bàn tay thường chạm với da cây,
Khuôn mặt người chạm vào mặt lá
Rừng già ơi, rừng già kỳ lạ quá.
Không có những ngày này hồ dễ đã quen nhau…”
Chương 4
4.10.1971
“Anh hẹn em cuối tuần/Chờ nhau nơi cuối phố/Biết anh thích màu trời/Em đã bồi hồi,
chọn màu áo xanh/Sáng chủ nhật trời trong/Nhưng trong lòng dâng sóng/Chẳng thấy
bóng anh sang/Đêm thứ hai thu vàng/Đêm thứ ba thu tàn/Mùa đông thứ tư sang…”
Bạn, đừng hát nữa, mà làm nao lòng bộ đội. Ta bước trên đồi bạch đàn, dưới chân là
đá sỏi… Chao ôi, bầu trời xanh quá, màu áo thân yêu của ta đã xếp lại nơi nhà…
Bạn, đừng hát nữa, mà làm nao lòng bộ đội. Ta bước trên đồi bạch đàn, dưới chân là
đá sỏi… Chao ôi, bầu trời xanh quá, màu áo thân yêu của ta đã xếp lại nơi nhà… Bao
giờ hai đứa hẹn nhau, hẹn ở đầu phố.. . ơi cái phố thẳng tắp những cây, những ngôi
nhà. Chắc phố buồn lắm đấy, vì vắng bóng lũ trẻ đá cầu, đi câu con cá trắng… Vắng
một giọng cười…
Ao ước lắm, một lần gặp bạn, một lần nữa thôi cũng được ta sẽ nói hết, ta sẽ nói hết.
Phố đừng cười nhé, dặn thế rồi mà lá cứ reo reo…
Sao khi ở gần với phố, chẳng yêu phố nhiều hơn nữa, để bây giờ hối tiếc… ừ, thời
gian… Bảy ngày là đủ một tuần. Không phải 7 ngày chờ mong nữa, mà dằng dặc…
Đồi bạch đàn vẫn thong thả đồng ca bài hát cổ xưa của mình. Bạch đàn ơi, bỡ ngỡ gì
mà em xoè lá? Hương bạch đàn, nhựa bạch đàn gợi điều mơ mộng quá… Em ở đâu
chẳng về, anh dắt tay em… Qua đồi này, là tới đồi sim, tới đồi hạt dẻ. Sim cuối mùa,
đừng bắt đền, làm môi em tím. Tím lưng đồi là màu tím hoa mua, không, chẳng phải
đâu đấy là màu tím Huế, màu tím của em…
Chao ôi, là nhớ… Mình tưởng tượng thấy bóng dáng yêu dấu đang nép sau thân bạch
đàn ứ nhựa. Đừng giận gì nữa hết, xa nhau lâu rồi, còn có điều gì để giận… Hay P.
giận vì lá thư cuối tháng 6 không được trả lởi? Không viết nổi P. ạ, không sao viết nổi,
vì nỗi thương cảm sâu sa bóp nghẹt trái tim T…
Khuôn mặt dịu dàng ấy, sao hôm nay im lặng thế, xôn xao trong lòng ta, là vần thơ
của nhà thơ nào, lâu lắm không nhớ rõ, cứ lan lan…
“Em đã nói biết bao lời,
Với cha, với mẹ, với người xung quanh
Với biển cả với cây xanh
Sao em không nói với anh một lời?…”
Ôi, giọng nói ấy, cứ làm ta rạo rực, giọng nói đánh thức trong ta những niềm xao
xuyến đã chết lặng và làm cho hồn ta, trái tim ta tràn đầy hạnh phúc. Suốt từ hôm
ấy… Hơi thở ấy đã phả vào từng sợi tóc, bàn tay thân yêu ấy đã xoa dịu cho ta nhưng
vết thương. Ta tưởng chừng có thể tan biến đi, “thân cát bụi lại trở về cát bụi”… Ta
muốn sụp xuống trước trái tim trong sáng ấy… ơi, thần tượng của ước mơ ta…
Luôn luôn ta mơ ước, ta khao khát, một buổi sáng đẹp trời, nhớ một màu xanh kỳ dị,
ta thức giấc trong hạnh phúc. Một người đang chờ ta, đang đợi ta. Đó là P., đó là P.
yêu dấu…
Ta khao khát một sớm mùa hạ, cùng nắm tay P. trong phòng đọc sách… Mùi sách
quyến rũ hay gì mà làm ta xao xuyến thế?
Ta thường mơ, một mùa nào đó, dẫu là mùa đông ướt át và nhầy nhụa… Ta đứng trên
sân ga lắng nghe tiếng mưa đuổi nhau trên bức tường rêu xám. Lòng ta đâu có thế, ta
đứng chờ…
Và kia, P. yêu dấu của ta, từ trên tàu bước xuống, P. ùa vào lòng ta hay ta chạy đến dụi
đầu vào gò má ấy, mấy năm trời còn gì nữa. P. hé miệng cười, nhưng ta đọc trong đôi
mắt một màu ươn ướt. P. đưa ta về ngôi nhà 72, mới một lần ta hững hờ đến. Và P. sẽ
kể cho ta vô vàn chuyện trên đất nước xa xôi.
Còn ta, sẽ kể cho P., về chuyện đời, vê những đồi phi lao Hà Bắc, mà mỗi bóng áo
đều gợi nhớ tới P., sẽ kể cho P. những “mảnh liềm trăng cong một nỗi nhớ nhau”…
Ta sẽ kể cho P. rằng: P. ơi, một buổi họp trong đình, đình cũ kỹ, ống máng han rỉ, ta
thèm được tay cầm khẩu súng loáng ngời ánh thép. Đạn vuốt nòng lắm, ta yêu khẩu
AK này như yêu người nào ấy, khẩu súng ơi, súng sẽ gắn bó với đời ta, cùng sống chết
với ta…
Khi ấy, chắc chắn ta sẽ lại nói với P. rằng, cả cuộc đời ta, cuộc sống riêng tư của ta
thuộc về P. vĩnh viễn. Từ lâu rồi, cuộc sống tâm hồn của ta tan biến đi trong tình cảm
nồng nàn của P., cái lò lửa rực hồng ấy.
Tới đây, ta mới hiểu thế nào là sự sợ hãi khi phải vĩnh viễn xa P. Đừng, lạy chúa, viễn
cảnh ấy đừng bao giờ xảy ra cả, đừng, mà ta sống với ai, sống trơ trọi và cô đơn thế, ta
làm sao sống nổi.
Khổ vô cùng là nói thật chỗ yếu của lòng mình. Ta đâu muốn thế. P. bảo: “Thích thư
T. lắm!” Chẳng phải thế đâu P. ạ, rồi sau này nhiều năm, quay nhìn về dĩ vãng P. sẽ
cười và lúc đó hết cả “thích thư T. lắm”. Lúc đó, những lá thư mà T. viết bằng những
trưa không ngủ, bằng đêm khuya yên lặng trên trường Tổng hợp, trên mỏm đồi xa xôi
này, viết bằng cả tâm hồn, bằng tất cả nỗi xao xuyến của trái tim – chỉ là một mớ giấy
tầm thường, cần phải vứt đi.
Nhưng cũng chẳng sao, và cũng phải thôi. Vì ta chỉ thú nhận điều đó với riêng P., với
một mình P. thôi. Ai chưa gặp ta cũng đều bảo ta ngớ ngẩn. Ai mới gặp ta cũng bảo
rằng: Mình quý, mình thương. Ai ở với ta một thời gian cũng trỏ vào mặt ta mà bảo:
Dở người!…
Còn ta, chỉ cười, chỉ khóc. Ta bay trên mây, dưới gió. Ta đã gặp ai đâu, ngoài người ta
yêu quý, mà có một lần ta đã xoa tay vĩnh biệt! Rồi đây, người ấy có tự xa rời ta
không, không biết. Có phải đời ta là cầm AK đánh giặc. Đứng trên đồi phun lửa vào
kẻ thù, dạn dày, thầm lặng… chẳng cần ai biết đến đâu. Rồi lúc nào ta chết, chỉ cầu
xin một điều, trên nấm mồ của ta là cây bạch đàn; cây bạch đàn mảnh dẻ…
Nằm trong lòng đất, giá còn được nghĩ, ta sẽ làm thơ, ừ, làm thơ, làm toán… Chà, lập
dị, lập dị, ngớ ngẩn đến thế nữa cơ.
Sao bây giờ ghét đời sinh viên đến thế. Thõng thẹo và ọp ẹp. Phải sống khỏe mạnh,
dữ dội trong lửa đạn.
Dân quý anh bộ đội. Bọn mình đi xin tre về làm nhà ở. Tre đấy, ngoài vườn, anh cứ ra
mà chặt. Tre đực, tre cái, tre bánh tẻ đan lóng đôi, lóng mốt, đan sọt đeo đá sau lưng.
Cây tre VN, lòng bà mẹ VN, có phải bây giờ ta mới hiểu đâu. Nhưng bây giờ ta mới
được nhìn, được thấy…
Chương 5
24.10.1971
Nằm mãi mà không ngủ được. Đêm nay là đêm thứ bao nhiêu rồi, mình thức dậy.
Đồng hồ chỉ 11 giờ kém 15, Kisinhốp là mấy giờ rồi?
Lâu lắm, 20 ngày đã qua, bận bịu và mệt mỏi, mình bỏ quên trang nhật ký, nhưng có
lúc nào quên được Như Anh. Tháng mười, tháng sinh nhật – Tuần lễ sinh nhật đi qua.
Ừ, trời cũng trong xanh hơn và lòng ta cũng mở ra đón gió. Tuổi 19, 20…
Như Anh ở đâu, nắm lấy bàn tay T., gió rét về thổi tím ngọn bàng, đâu rồi hơi ấm của
ta?
Ai bảo những ngày này không đẹp, không thơ?
25.10.1971
Tháng 11 sắp đến rồi… Và như vậy, tháng 8 đã trôi qua…
Buổi sáng đến chậm chạp.
14.11.1971
Đã 10 giờ đêm, chủ nhật. Đang buổi tiếng thơ của Đài Tiếng nói Việt Nam. Khi còn ở
nhà, những buổi tiếng thơ này, mình ngồi bên bờ ao hay bên một cái giao thông hào
ngập nước, nghe những giọng ngâm quen thuộc. Thế mà hôm nay, ở đây, ở cái đất Hà
Bắc này, mình ngồi viết, vừa lắng tai nghe… Kim Cúc đấy, với giọng hơi mượt mà,
chải chuốt, Kim Dung, Trần Thị Tuyết. Nghe quen như giọng người hàng xóm.
Buổi trưa, vừa gửi thư cho P. Có lẽ đó là cái thư cuối cùng ở đất Hà Bắc. Từ ngày mai,
không được ra khỏi chỗ đóng quân nữa. Không biết đi lúc nào – Lo lắm, liệu P. có
hiểu và thông cảm cho không – Biết làm sao được, khi bản thân mình không thể chủ
động trong chuyện đó.
Gặp Dũng, bạn học từ lớp 8 – Dũng học Đại học Y khoa, và bây giờ ở C.17. Dũng
cũng tốt đấy, hiểu mình và rất quấn quít. Vẫn gặp trên sân bóng, xung quanh là phi
lao, có con đường chui qua, đỏ bụi. Dũng hỏi thăm hết bạn bè. Xuyên đi Bungari rồi.
Châu đi Cuba, Dung đi Tiệp hay Đức gì đó… Thường thôi… đừng coi trọng họ, đi
nước ngoài thì người ta thích, nhưng ít ai thích người đi nước ngoài, có cái gì hơi là
lạ…
Dũng nhắc cho mình chuyện lớp, trường, chuyện thằng Khang, Nhữ Đình Huân, cái
tụi nghịch như quỉ sứ – Ngô Bình nữa, nó đang đóng ở Quảng Bình, bị thương và đã
được kết nạp Đảng hay sao ấy… Nhanh quá, mới đó mà nay mỗi đứa một phương
trời. Mình nhớ mấy câu thơ tặng Bình khi tiễn Bình đi bộ đội hồi cuối lớp 10…
Dũng hỏi mình về chuyện đi nước ngoài. Khơi dậy làm gì chuyện ấy. Nó khiến mình
buồn bã suốt một thời gian dài. Thật hèn hạ và xấu xa.
Mình kể cho Dũng cuộc sống từ khi hết lớp 10. Dũng cũng đồng ý với mình và tỏ ra
hài lòng với cách sống ấy. Kể cũng lạ, sao Dũng dễ dàng đồng ý với ý kiến của mình
thế.
Dũng bảo mình cần đoàn kết sâu, rộng với bạn bè hơn nữa. Dũng bảo: “Hãy biết liên
kết với các bạn bằng những mặt tốt của họ. Nên triệt để nối mình với các bạn bằng cái
tốt đó”. Kể cũng hay. Mình sẽ cố gắng.
Đá bóng với B1. Gió mạnh. Dạo còn ở trường, mình với Thanh hay ở cùng một bên,
bây giờ Thanh ở B1, còn mình lại sang B2. Đá bóng mà nhớ trường, nhớ kỷ niệm đến
thế – ơi, Yên Hoà B… đâu rồi?
Buổi tối ba má và anh của Minh lên chơi. Còn mình thì chẳng có ai lên cả – Buồn và
nhớ gia đình vô cùng. Nhưng mình không tán thành chuyện lên thăm đó. Mình ngồi
nghe rất lâu chuyện hai bác và anh Bằng nói. Chẳng có gì mà phải lên tận đây cả –
Nhớ Minh ư, mà sao có vẻ thờ ơ tệ. Không giống trong tưởng tượng của mình chút
nào? Hay là tại mình không ở trong tình trạng đó nên mình không biết, không cảm
hiểu?
Không, rõ ràng không. Gia đình đi từ 5h30 sáng mãi trưa mới đến nơi. Mang cả cơm
nắm và thức ăn định ăn ở Bắc Giang, nhưng không hiểu sao lại về tận đây ăn. Buổi
trưa, bọn mình ăn cơm, phải sang chỗ anh Hinh ăn tập trung. Mình chào gia đình và
Minh cũng đi ăn – ở nhà còn ba má và anh Bằng – Sao hai bác và anh không gọi
Minh ở lại ăn cùng.
Không hiểu ra sao cả – Lạ thật – Gia đình mình thì nhất định không thế rồi.
Nói chung, mình chưa hiểu rõ lắm về Minh và gia đình cậu ta. Biết chung chung, đại
khái.
Tối nay, liên hoan tiểu đoàn, ăn cơm muộn nên được phép nghỉ. Mình nói chuyện với
bà.
Bà kể chuyện “Duyên Tiên”, chuyện “Trương Chi”,v.v… làm mình như trở lại trẻ con.
Thương anh Đổng Vĩnh ra gốc cây đề và khóc, ngóng lên trời tìm nàng Bảy.
Nàng tiên ơi, tấm lụa trắng đâu rồi, và gốc cây đề ấy ở đâu trong rừng sâu kia?
“Mùa xuân hoa nở, thiếp về
Mời chàng ra gốc cây đề nhận con…”
Bà bảo mình đọc “Bầm ơi”, mình đọc, gió lành lạnh và mình thương mẹ quá, mẹ ơi…
Bà đã 60 tuổi – Bà bảo, năm nay là “năm tuổi”, mẹ mình đã qua tuổi 49 và 53 rồi,
không bị làm sao là mừng lắm. Lạy trời cho mẹ sống lâu, sống mãi và đừng ốm đau gì
cả. Thương mẹ lắm mà không biết làm gì. Thù thằng Mỹ quá, phải giết hết nó đi.
15.11.1971
Thằng Mỹ, nó là cái gì mà mơ hồ như thế? Đi bộ đội, mình cảm thấy hơi mông lung
trong việc nhìn nhận kẻ thù. Hố bom còn toác ra ở trên đồi. Và cảnh làng xóm tiêu
điều, bị tàn phá ngày 29-2-1968, ta đâu có quên. Mặt mũi thằng Mỹ thế nào? Hẳn đó
cũng là khuôn mặt người bị bóp méo xộc xệch. Hẳn đó là bộ mặt nhăn nhúm trước
ánh sáng mặt trời.
Đêm ấy, thật đau lòng. Hồi chiều, bị ném 40 quả bom. Điện bị đứt lung tung. Làng
xóm chìm trong tang tóc và bóng đêm. Ở ngay trước ngõ là một bát hương hiu hiu
khói. Anh Phúc bị bom tiện đứt cả chân tay, nằm trong chiếc quan tài đỏ, ngọn đuốc
nứa thổi phừng phừng, cái xe bò lăn lộc cộc… Sao giống “chiếc quan tài” như thế.
Không, suốt đời ta không quên, ta không quên cảnh em bé miền Nam đập tay lên
vũng máu. Dưới tay em lẽ ra là chậu nước trong mát – cái biển mênh mông của tuổi
thơ hồn nhiên, nhí nhảnh…
Thằng Mỹ, nó thế nào? Trời ơi, sao lâu quá. Bây giờ cái khao khát nhất của ta – cái
day dứt trong ta là khi nào được vào miền Nam, vào Huế, Sài Gòn – xọc lê vào thỏi
tim đen đủi của quân thù.
Ta ngồi đây, thanh bình như thế. Nhưng ở cuối trời Tổ quốc, bao nhiêu người con ưu
tú của dân tộc đang đổ máu, đang giập gãy từng khúc xương, đang bị kẻ thù đày đọa
và các đồng chí của ta, anh giải phóng quân kiên cường đang nín thở đợi giờ xung
trận, đang đói rét và đau nhói vết thương trên một cánh rừng già.
Vậy mà, lại đến giờ đi ngủ. Những cơn gió liu riu trên cành tre đưa ta vào cơn mơ – Ta
lại trở về với cái ngõ nhỏ của mình… Lạc lõng ư? Có lẽ nào!
Ta biết giấu mặt vào đâu, vào gấu quần hay gấu áo, khi đường Trường Sơn không có
dấu chân ta? Khi cả cuộc đời ta chưa có cái niềm vui mãnh liệt của người chiến thắng,
cắm cờ Tổ quốc trên cả nước thân yêu.
Phạm Tiến Duật, Triệu Bôn… Các anh đêm nay ở đâu trên Tổ quốc? Các anh có viết
những bài thơ, những truyện ngắn vào giờ này? Ôi, những nhà thơ, nhà văn – chiến
sỹ, ta gặp nhau trên cùng một ước mơ làm nhiều cho Tổ quốc. Chúng ta có mặt trên
trận tuyến ác liệt nhất, khi đất nước đánh thù, có gì tự hào hơn nữa.
Ta bỗng nhớ câu thơ của ...
MÃI MÃI TUỔI HAI MƯƠI
Dự án 1.000.000 ebook cho thiết bị di động
Phát hành ebook: http://www.SachMoi.net
Tạo ebook: Tô Hải Triều
Ebook thực hiện dành cho những bạn chưa có điều kiện mua sách.
Nếu bạn có khả năng hãy mua sách gốc để ủng hộ tác giả, người dịch và Nhà
Xuất Bản
Chương 1
2-10-1971
Nhiều lúc mình cũng không ngờ nổi rằng mình đã đến đây. Không ngờ rằng trên mũ
là một ngôi sao. Trên cổ áo là quân hàm đỏ. Cuộc đời bộ đội đến với mình tự nhiên
quá, bình thản quá và cũng đột ngột quá.
Thế là thế nào? Cách đây ít lâu, mình còn là sinh viên. Bây giờ thì xa vời lắm rồi
những ngày cắp sách lên giảng đường, nghe thầy Đường, thầy Đạo… Không biết bao
giờ mình sẽ trở lại những ngày như thế. Hay chẳng còn bao giờ nữa! Có thể lắm. Mình
đã lớn rồi. Học bao lâu mà đã làm được gì đâu, đã sống được gì đâu? Chỉ còm cõi vì
trang sách, gầy xác đi vì mộng mị hão huyền.
Hai mươi tám ngày trong quân ngũ mình hiểu được nhiều điều có ích. Sống được
nhiều ngày có ý nghĩa. Dọc đường hành quân, có dịp xem lại lòng mình, soát lại lòng
mình.
Mình bắt đầu sống có trách nhiệm từ đâu, từ lúc nào? Có lẽ từ 9-3-1971, tháng ba của
hoa nhãn ban trưa, của hoa sấu và hoa bằng lăng nước.
Những người bạn thân yêu của mình đã lần lượt đi học xa hết cả rồi. Mỗi người một
phương. Các bạn đã đi lên phương Bắc. Còn mình, sẽ đi về phương Nam…
Đêm Hà Bắc thật thanh bình. Thèm quá, nghe một tiếng thì thào của cánh gió trên đồi
bạch đàn… Mình đã sống trên 20 ngày bên hồ cá Yên Duyên, Yên Sở. Ở đó có những
đường cây đẹp tuyệt. Mình đã chụp tấm ảnh bộ đội đầu tiên dưới một gốc dừa, sau
lưng là hồ cá. Hoàng hôn thong thả thay màu nước. Và ngôi sao Hôm trầm tư, kiêu
hãnh đã mọc trên trời. Cuộc đời bộ đội đâu dễ dàng như thế. Mình đã khóc, nước mắt
giàn giụa, khi các bạn tiễn mình đi, khi buổi lễ kết thúc, khi bài Quốc ca rung bầu
không khí trong lành trên Trường Tổng hợp. Bản nhạc này đây, bao lần mình đã nghe,
đã cúi đầu suy nghĩ. Nhưng hôm nay mới thực hiểu, thực cảm một điều giản dị: Bài
Quốc ca của ta, của ta!
Khóc, không phải vì hèn yếu, không phải vì buồn bã, mà vì xúc động. Vì buổi chia
tay này thiêng liêng quá. Những người bạn thân yêu nhất của mình không thể tiễn
mình đi được. Và bàn tay ấy, và đôi mắt ấy, giọng nói ấy… Lên xe rồi, xe nổ máy. Xe
VN sản xuất, tiếng động cơ như tiếng tim mình vậy. Nghẹn thắt vì một cảm giác khó
tả, mình ngước nhìn lần cuối cùng cánh cửa sổ, nơi hằng ngày mình bò ra, nhìn xuống
lòng đường. Khoảng trời nhỏ của riêng mình đó. Một hôm nào, những hôm nào mình
mong chờ nhìn thấy bạn của mình đạp xe qua, để mình gọi… Bây giờ, là chia tay, xe
lăn bánh, êm ru, xe đi êm, mà bọn mình xô vào nhau, chen nhau thò tay ra cửa. Ngoài
kia, những khuôn mặt gần gũi, tuy có người chẳng bao giờ mình trò chuyện, chẳng
bao giờ mình nghĩ rằng có họ sống trên đời… ở đâu, khuôn mặt thân yêu ấy? Bạn đi,
mình không gặp được.
Đêm 26.7 chỉ là những gương mặt xa lạ, đầy vẻ háo hức và tự mãn. Rối loạn, và
thoảng một thứ mùi khó chịu. Mình không dám đứng lâu và đành chịu một nỗi ân hận
giày vò… Mình đi, khi bạn đang bước vào năm học mới. Bước lên giảng đường, bạn
có nhớ tới mình không?… Đừng, hãy để tâm hồn trọn vẹn thanh thản, mà đón một
mùa xuân của lòng mình. Trang đầu của cuộc đời sinh viên, đừng để rơi một giọt
mực, đừng để loang lổ một vết ố vàng…
Xe ơi, lao nhanh hơn, cho ta chóng tới gia đình lớn. Nơi ta gửi gắm cả thời thanh xuân
của mình…
Hơn cả khi trên tay phập phồng tờ quyết định. Vui sướng, tự hào, cảm động làm sao
khi trên người ta là bộ quân phục xanh màu lá. Anh sinh viên quen màu trắng áo của
cánh cò, quen màu xanh da trời tháng nắng… Mình trút bỏ không thương tiếc, và trìu
mến khoác lên mình màu xanh ấy. Màu xanh của núi đồi và thảo nguyên, của ước mơ
và hi vọng. Màu xanh bất diệt của sự sống.
Trên mũ là ngôi sao. Ta lặng ngắm ngôi sao, như hồi nào ta chỉ cho bạn: Kia là sao
Hôm yêu dấu… Nhưng khác hơn một chút. Bây giờ, ta đọc trong ngôi sao ấy, ánh lửa
cầu vòng của trận công đồn, màu đỏ của lửa, của máu…
Ta thấy trong màu kỳ diệu ấy, có cả hồng cầu của trái tim ta….
Ai ra đi cũng với lòng say lý tưởng, và nhẹ nhàng bên trong là chút ước mơ. Buổi gác
đầu tiên là đêm trăng sáng, là bài thơ, là một trang nhật ký… Sung sướng và hãnh
diện biết bao, ơi xóm làng yêu qúi, ngủ yên, ngủ yên, có anh bộ đội thức canh trời.
Những mái nhà nghiêng như mí mắt thân thương, nhắm ngủ ngon lành… Ta bước
nhẹ, lâng lâng một mùi hương quen thuộc. Bưởi đã cuối mùa, ổi đã cuối mùa… Cây lá
đang dồn nhựa để trổ ra một mùa quả chín…
Đồng đội đọc cho ta nghe những vần thơ trong trẻo:
“Gậy Trường Sơn đưa ta lên đường đánh Mỹ.
Nồi cơm Thạch Sanh xưa là chuyện ước mơ.
Nay là lòng dân với người chiến sỹ”.
Ta đã đọc ở đây những cái tên lần đầu ta đọc, lần đầu ta biết. Cái tên ấy, những cái tên
ấy là một nốt sol điềm tĩnh, nốt la nhí nhảnh… là 7 cung bậc của bản đại hợp xướng
mà dân tộc ta đang cất lên tiếng hát…
…”Bộ đội đi rồi, chỉ khổ dân, lại nhớ mãi thôi…”
Ai đã nói với mình điều ấy, khi trời đã rạng sáng? 9g30 phải vào màn, nhưng ta thức
trọn một đêm, với bốn bề đang rạng sáng, mặt trời mọc, và em bé đã ríu rít ở hàng ô
rô xén gọn. Một tiếng võng kêu, một vệt nắng kẻ ở ngoài hiên, một con nhện giăng tơ
trên cành ổi… Có gì khác với nơi ta ở, nơi ta gửi gắm tuổi thơ. Sông Tô Lịch đen
ngòm chảy rụt rè trong thành phố, tới đây, vẫn rụt rè như cây trinh nữ… “Mắc cỡ gì
mà khép cánh ư em?”
Ta đã bao lần đi bên sông Tô Lịch, trước kia ta khó chịu vì mùi bùn oi nồng… Ta đã
mấy lần hành quân bên sông Tô Lịch, ta yêu sông vì bọt tăm sủi, vì màu xanh non,
tươi trẻ có công vun đắp của dòng sông. Có phải lòng sông đã quên mình nhơ bẩn, đã
chịu lòng mình mang mùi vị ấy để đem cho đời những cọng rau muống tươi kỳ lạ, để
đem màu hồng tươi cho thành phố. Sông Tô ơi, mai trở về, ta khơi lại dòng sông, cho
tuổi thơ vẫy vùng, cho con thuyền anh chở em đi, đi vòng quanh thành phố…
Hôm nay, đi bên sông, dưới cái nắng chang chang, trên vai là balô con cóc của Trường
Sơn. Không thể nói là nhẹ được. Quai đeo thít vào vai, ép lồng ngực lại. Đau và bỏng
rát, khó thở. Đè lên hông, ép vào lưng, ướt đầm đìa là mồ hôi ta đấy. Ta đặt balô, và
cười luôn được. Ừ, cuộc đời ta là thế. Phải cười và phải vui. Bài hát ta yêu là Trường
Sơn Đông – Trường Sơn Tây… Con đường gánh gạo không có muỗi, nhưng không
phải là nhẹ nhõm. Vai sinh viên, mặc dù tâm hồn luôn bay bổng, nhưng nên thơ hơn
cả những vần thơ là cái nghiến điếng người trên vai, là cái nắng bàng hoàng, dữ dội.
Yên Sở ơi, ta yêu Yên Sở như làng quê ta vậy. Nơi trú quân đầu tiên của đời ta. Nơi ta
gọi bạn của mình là đồng chí. Nơi em thơ gọi ta là chú bộ đội, và những cô gái làng
gọi ta: Chào các anh bộ đội.
Em đừng cười anh vì bộ quân phục thùng thình. Mẹ ta nghèo, rau cháo nuôi ta, đau
khổ bốn nghìn năm, chắt chiu từng hạt gạo nuôi ta. Để bây giờ ta lớn. Phải lớn lên,
phải to ra cho kịp tầm cao của lịch sử. Cánh tay này sẽ bóp nghẹt cổ quân thù.
Đêm đầy sao, chi chít những sao, như lòng mẹ, như lòng em đứng ở bên đường. Hồ
nước trong kỳ lạ. Sao mẹ kể, những cái hồ ấy là nước mắt? Đau khổ nghìn năm,
những tròng mắt nào đã đầm đìa để tích tụ thành hồ… Mà hôm nay đời vui như thế?
Con cá dưới hồ cũng quẫy, cũng đớp ánh trăng và chào anh bộ đội… Cá, cá ơi, đừng
cười anh nhé, đừng kể cho những cô gái trong làng, chuyện bọn anh sợ đ*********,
khi các cô ngồi bên bờ này nhắc đến các anh… Quên làm sao vườn nhãn um tùm, nơi
ngày đầu ta ngồi yên nghe giảng bài chính trị… Đầm ấm quá thôi, trên là cây lá, xanh
xanh, lấp lánh ngôi sao trên mũ, lung linh những vì sao trên cổ áo, đỏ như lửa là quân
hàm, bùng cháy những ngọn đuốc là cháy tim ta… Ê a, ê a là lời em thơ tập đọc. Cô
gái nào mà dáng thanh thanh giống người ấy thế… Kỷ niệm lắng sâu, theo ta vào trận
đánh…
Những ngày hôm nay, hôm nay sao khỏi bồi hồi. Nồi nước mẹ đun sao thơm kỳ lạ. Có
phải đắng cay cả một đời, nên bát nước mẹ đưa ngọt ngào đến thế? Chia tay với con
mà mẹ vẫn cười, âu yếm…
Hành quân từ 5 giờ chiều đến 9 giờ đêm, đẹp lắm. Trăng đầu tháng còn đỏ quạch, cứ
gợi cho ta nhớ một cánh buồm. Đấy, cánh buồm đỏ thắm, đựng đầy gió, gió cuốn
những ngôi sao đêm, ùa vào lòng thuyền và đẩy thuyền trôi trong tâm tưởng… Ngủ
bên bờ một dòng sông, có những đường dừa thật đẹp.
Trời trong quá, dây điện chăng như những dòng kẻ của một trang vở học trò. Đừng
bấm đèn trêu họ, cứ để họ nói chuyện với nhau. Anh con trai sắp xa người bạn của
mình. Cô ta lại về trường học tiếp. Chỉ còn vài tiếng nữa thôi là còi tàu, là chuyển
bánh. Anh dặn gì cô ấy, có lẽ chẳng dặn gì đâu, và chỉ mỉm cười… Cậu nào đã cất
tiếng hò:
“Tiếng ai như tiếng chuông vàng
Tiếng ai như tiếng cô nàng của anh…”
Còn tiếng này thì đúng là giọng anh Châu rồi, anh “Mộng Châu”:
“Anh yêu em lắm em ơi,
Nhưng anh chẳng dám ngỏ lời với em…”
Lính khoái, cười khúc khích… Những vì sao dưới sông cũng va vào nhau… Những
cánh dừa cũng nắm tay nhau tinh nghịch bay qua bầu trời thanh bình. Tiếng động cơ
như xay lúa.
Đêm đẹp vô cùng, ta lắng nghe đất thở. Anh bạn nằm bên rọi đèn pin tìm gì, có phải
anh tìm con dế đang cần cù dạo bản nhạc đêm của Pritsvin? Không cưỡng nổi, ta lấy
giấy và viết thư cho Như Anh…
Chương 2
“12 giờ đêm 28/9/1971”
Như Anh có thích đọc những dòng này hay không? T. viết cho Như Anh khi đang
nằm trên bờ một con sông. Sông đẹp lắm. Đêm rất khuya. Vành trăng đỏ quạch sắp
lặn xuống chân trời.
Đồng đội của T. người thì đang ngủ, người đang nói chuyện. Dưới cuốn sách mà T.
kê, có 2 lá thư sắp gửi cho Như Anh. Sương ướt đẫm vải nhựa. Không một ngọn đèn.
Chỉ những vì sao, soi cho T. viết những dòng này.
Bắt đầu cuộc đời bộ đội là thế này đây. Tối quá, nhưng cứ viết. T. thích thế. Rồi đây,
sẽ có nhiều lúc T. viết thế này. Chắc xấu như ma lem.
(Hành quân đây – Chào Như Anh nhé – Thật tiếc)…
Đến ga rồi, ga Văn Điển. Nhưng nào có tàu. Mệt quá, lại phải gánh nồi quân
dụng.Chẳng chịu được nữa, mình ngồi bệt xuống đất, dựa vào ba lô mà ngủ. Suỵt, nói
giấu các “o văn công” chứ, thật đúng với câu: “Má văn công, mông bộ đội”!. Những
chuyến tàu đêm chạy từ Hà Nội đến, cánh cửa, ô cửa đầy thương nhớ. Tàu phì ra
những cuộn khói, những đám mây nhân tạo. Mặc kệ, tớ còn ngủ. Đợi một chuyến đi
xa…
Sau cùng thì xếp được ba lô lên tàu. Tàu T. Q, khá rộng. Mình chẳng có chỗ đứng,
đành đứng trước chỗ đi giải. Thật bất tiện. Nhưng chẳng sao hết.
Đêm âm u quá, cánh đồng vắng lặng, chỉ nghe tiếng gió, tiếng con tàu thở phì phì. Kia
rồi, Hà Nội, là phố Nguyễn Du lấp lánh sau bức tường của ga Hàng Cỏ. Thôi, chào Hà
Nội, 3 hoặc 4 tháng sau ta lại về, ta lại hành hương trên các đường phố vắng gắn bó
với cuộc đời ta…
Sông Hồng ban đêm, mùa nước, cầu phao dập dềnh, ta nhận ra cầu vì ánh điện.
những con mắt chói ngời kia bảo ta, đó là bờ… Chao ôi, dòng sông Ănggara xa xôi
chảy qua thành Iêkut, đêm nào có giống đêm nay? Ta như gặp lại khuôn mặt thân yêu
ấy. Giói đừng thổi mà tóc lại bay rối, lại phải lấy lược chải hoài… Gió đừng thổi, hơi
lành lạnh đấy, mà áo thì mỏng về nhà lại ốm…
Bắt đầu xuất hiện bạch đàn dọc theo đường tàu chạy. Cây bạch đàn ta yêu, ta quí. Cây
bạch đàn chép lại cho ta một thời thơ ấu đầy chất thơ, và say nồng mùi cỏ mật. Bạch
đàn ơi, chạy theo anh nhé, chạy theo tàu của anh và sống mãi với anh. Khi nào anh
nằm xuống, bạch đàn hãy rủ lá, run rẩy và ru cho anh ngủ. Cây bạch đàn cứ cao lớn
với đời, cứ hát cho đời bài ca về thầy giáo Đuy Sen và cô học trò giỏi Altưnai, bài ca
về cây phong lá đỏ. Mặt trời mọc rồi, các ô cửa của toa tàu xanh màu quân phục. Em
nhỏ trên đồi đi học đấy ư, mà sao khăn quàng bay và bàn tay nhỏ cứ vẫy các anh… Ta
bỗng nhớ một đoạn thơ T.H:
“Các em ơi, đã học chưa
Các anh dựng cho em trường mới nữa.
Chúng nó chẳng còn mong giội lửa
Trường của em đứng giữa đồi quang
Tiếng các em thánh thót quanh làng…”
Ta đã đi qua vùng đồi trung du của Bắc Thái, dấu vết của chiến tranh, của lụt lội còn
hằn rõ ở đây. Ta đã nghĩ gì khi nhìn và lặng người bên hố bom thù đào sâu gần khu
luyện gang thép. Mẹ ơi, ở đây con đã hiểu chiều sâu của đất. Cuộc sống thanh bình
chỉ cho ta giá trị chiều rộng, chiều dài của mảnh sân con thường đùa nghịch, của
mảnh vườn tháng 10, mía đang ngọt dần lên ngọn, của ngôi nhà ấm cúng con ngồi
viết bài thơ ca ngợi đất. Chưa biết rằng, đất có chiều sâu, mà hôm nay vế bom thù đã
khơi dậy cho con.
Ga Lương Sơn hay ga gì đó, xuống tàu và vào bãi cỏ rộng nghỉ. Khoảng 9 giờ rồi, cỏ
may, cô gái nào xưa níu bước chân chàng trai trẻ, nay gài vào quần các anh bộ đội. Cô
muốn thêu gì lưu niệm? Đêm nay, bên bếp lửa nơi trú quân, nhặt cỏ may và chắc có
anh chàng mơ mộng lại nghĩ hoài một người bạn gái, giỏi nghề may vá… “Em khâu gì
vào chiếc áo của anh?”…
Và cả cây mắc cỡ, cô gái ngây thơ, khẽ chạm vào là nép mình xấu hổ, các anh lính trẻ
lại cứ trêu hoài…
Chuyển tàu, lính xô nhau lên chiếm chỗ gần cửa sổ. Ừ thế mà Vũ Đình Minh lại viết:
“Người bốn phương nhìn nhau qua ánh mắt/ Một chỗ ngồi cũng nhường nhịn cho
nhau”!
Tớ khoái không để đâu cho hết, vì được ngồi bên cửa sổ. Tàu chạy rồi, gió thốc vào
mát lạnh. Từ đây, rừng rậm rạp hơn, đồi kề ngay đường tàu chạy. Người kiếm củi trên
đồi cứ vẫy…
Chương 3
3.10.1971
(Suốt đêm qua không ngủ được. Cứ thức hoài vì những cảm giác nôn nao, rạo rực. 1
giờ sáng, khuya quá rồi. Phải vào màn ngủ. Ừ, cuộc sống bên trong của con người
thật kì lạ, cứ nhớ, cứ nhớ… Nhớ ai, nào biết… mà sao không ngủ được).
Rừng chẳng nên thơ như ta tưởng tượng. Cây cao, xù xì nom rờn rợn. Vực sâu, dây leo
chằng chịt, chứa đựng biết bao điều bí ẩn. Cuộc sống của ta sẽ kéo dài ở đó.
Dân tộc ở đây là gì? Mán hay Thổ? Ta chỉ mong nhìn thấy một cô gái Sán Dìu, quần
đỏ, giữa mênh mông đồi cây. Bỗng nhớ một câu thơ có vần: Gà đánh trống…/ Khỉ leo
thang/ Có những cô nàng/ Váy đỏ yếm trắng… ” Sao lại nhớ đến câu ấy? Bạn hỏi vậy.
Mình chẳng biết nữa. Hình như màu sắc, âm thanh, hình khối hoà trộn trong đó phù
hợp phần nào với những cảnh mà mình đang chứng kiến.
Ai đã xây nên những đường hầm xuyên núi, bàn tay của ai đã lần lữa trên những mặt
đá này. Ngồi bên cửa tàu chạy nhanh, gió thốc vào lành lạnh, cả hơi đất, hơi đá ẩm
ướt, âm u. Toa tàu tối om. Không ai hé răng. Vì sợ hay vì lạ. Còn mình thì lạ, cứ thò
đầu qua cửa, nhìn về phía cửa hầm. Bụi than bám đen cả mặt. Con tàu phóng thanh
rung lên bần bật. Ánh nắng đây rồi, hối hả trên từng khuôn mặt. Ngoảnh lại phía sau,
là ngọn đồi con tàu vừa chui qua. Vẫn cây lá ấy, bình thản vô tư lự… “Chuồn chuồn
kim thân dài, cánh đỏ/ Em khâu gì trong áo xám của đồi cây… “
Có lẽ là như vậy. Yên lặng, bình thản trên đó, để dưới đáy sâu của nó, có con tàu băng
băng chở đi một nguồn sinh lực mới…
Tàu ơi, cứ chạy đi, chạy nhanh đến những vùng đất nước xa xăm. Kìa là cây vào, cây
bương, khác với lùm tre quen thuộc. Cái cây gì mà cao lạ lùng, trong suốt cả cuộc đời
nó đã tiễn mấy chuyến tàu qua…
Bạn thì thào bên tai: Suối đấy, trong lắm. Nhưng đừng vội tắm… Ờ, dòng suối trong
vắt, róc rách chảy dưới chân đồi. Những viên sỏi xanh đỏ tím vàng óng ánh đâu rồi?
Mà chỉ thấy những chiếc lá úa vàng xoáy tròn và chìm nghỉm… Đám mây ơi, mây trôi
về đâu? Nhắn giùm ta tới người bạn ấy, rằng: ta nhớ lắm, nhớ bồi hồi. Ta gục đầu
xuống bàn… Rồi sau đó thì sao, P. không biết nữa, P. không muốn biết nữa, vì khi đó,
T. gần quá, đến nỗi không thể chấp nhận được câu trả lời ấy…
Anh câu gì bên dòng suối ấy? Tôi nhìn rõ lắm sợi cước trong trong như một tia nắng
cong queo trên mặt nước. Cuộc sống thanh bình biết mấy, trong một dáng văng cần,
trong một bóng mát của vành mũ lá…
Lính ào qua cửa sổ, sỏi dưới chân cũng mang màu đỏ quạch của núi đồi. Nắng gắt,
choang choáng. Ga này cũng không biết tên nữa. Chỉ có bưởi, quả bưởi trên rừng nhỏ
như nắm tay và khô. Dùng tạm vậy. Tất nhiên là phải có tiền. Mệt, nhưng mọi người
đều hồ hởi và hể hả. Khoan khoái ngồi trong bóng của ngôi nhà lợp nứa. Chẳng có
nước. Trời nắng – giở bánh mì ra ăn, nghẹn lại nơi cổ họng… Tạm biệt, con tàu màu
xanh, đi đi… Xa hơn nữa là Bố Hạ, cam Bố Hạ… là sông Thương… Còn ở đây, khét
cháy…
Được lệnh hành quân vào rừng. Chỉ 7km thôi.
Con đường rừng đầu tiên ta đi, vai nặng ba lô mồ hôi ướt đẫm ngực, vai và sau lưng
áo. Con đường dài và mất hút”.. Quay lại phía sau, cũng con đường… Con đường xa
lạ và gập ghềnh…
Khiếp, ba lô chứa gì mà nặng thế, oằn cả lưng anh bộ đội. Mảnh đồi ơi, ta chưa từng
quen biết, nhưng hôm nay mồ hôi ta đã nhỏ xuống đất này.
Nắng cứ chang chang, con chim gì cứ kêu làm rối lòng người. Đường dốc ngược lên
trời.
Những ngọn đồi này đây, gần một thế kỷ nay, là nghĩa quân của Hùm thiêng Yên Thế.
Bà mế ơi, cây súng kíp này có phải của bố ngày xưa đóng khố theo cụ Đề đánh Pháp.
Gian nhà trống trải trơ trọi trên đồi. Nước ở đây ít lắm. Nhòm xuống giếng cứ hun hút.
Em có soi gương thì đi ra suối. Cái gương giếng nhà làm chóng mặt em…
Cụ chủ già lắm rồi, mái tóc bạc trắng, da mặt hằn nếp thời gian. Cụ cởi trần trùng trục,
quấn quanh mình một mảnh vải thô, hai bàn chân khoằm khoằm, đi vòng kiềng mà
thật vững.
Em gái học lớp 9 trên huyện, vắng nhà… Anh biết vậy vì áo hoa xanh của em không
phơi trước cửa, mà gấp ở đầu giường. Núi rừng ơi, Yên Thế… Ta yêu người vì cây chò
chỉ, cây lát, cây lim sừng sững, như bộ ngực của nghĩa quân…
Ta nằm ngửa mặt cho những giọt nắng đỏ lanh tanh chạy từ kẽ lá. Gốc đa rừng, cái
dốc của rừng, bàn chân nào đặt bước đầu tiên trên con đường hỏm hẻm luồn sâu
trong lá để bây giờ đến lượt ta đi…
Đường dài đến thế, ta đi mãi, mải miết trèo… Chỉ thấy ba lô nặng trên vai, chỉ thấy
mây trắng cuốn về phương Bắc, thấy trời xanh ngút ngàn, và rậm rì là cây, là cỏ…
Đã cuối mùa sim. Quả sim tím sẫm, ngòn ngọt. Có phải rừng chiều ta nên kéo dài
mùa sim tím cho lính. Miệng cậu nào cũng lép nhép những sim. Xóm làng đây thưa
thớt, mái nhà như một đốm nhỏ chìm giữa lá cây…
Rải chiếu giữa trời là cây giàng giàng. Đừng bước vội hái hoa rừng mà gai đùm đũm
doạ đấy. Ta đút vội vào ngực áo những chiếc lá rừng mà ta chưa biết gọi tên. Lá héo,
mà thơm, phảng phất từ đâu đấy. Bạn có biết ta yêu rừng không vậy… Ôi, cái nắng
trong rừng, rưng rưng nhựa. Ai đã viết những câu thơ để bây giờ ta đọc:
“Da bàn tay thường chạm với da cây,
Khuôn mặt người chạm vào mặt lá
Rừng già ơi, rừng già kỳ lạ quá.
Không có những ngày này hồ dễ đã quen nhau…”
Chương 4
4.10.1971
“Anh hẹn em cuối tuần/Chờ nhau nơi cuối phố/Biết anh thích màu trời/Em đã bồi hồi,
chọn màu áo xanh/Sáng chủ nhật trời trong/Nhưng trong lòng dâng sóng/Chẳng thấy
bóng anh sang/Đêm thứ hai thu vàng/Đêm thứ ba thu tàn/Mùa đông thứ tư sang…”
Bạn, đừng hát nữa, mà làm nao lòng bộ đội. Ta bước trên đồi bạch đàn, dưới chân là
đá sỏi… Chao ôi, bầu trời xanh quá, màu áo thân yêu của ta đã xếp lại nơi nhà…
Bạn, đừng hát nữa, mà làm nao lòng bộ đội. Ta bước trên đồi bạch đàn, dưới chân là
đá sỏi… Chao ôi, bầu trời xanh quá, màu áo thân yêu của ta đã xếp lại nơi nhà… Bao
giờ hai đứa hẹn nhau, hẹn ở đầu phố.. . ơi cái phố thẳng tắp những cây, những ngôi
nhà. Chắc phố buồn lắm đấy, vì vắng bóng lũ trẻ đá cầu, đi câu con cá trắng… Vắng
một giọng cười…
Ao ước lắm, một lần gặp bạn, một lần nữa thôi cũng được ta sẽ nói hết, ta sẽ nói hết.
Phố đừng cười nhé, dặn thế rồi mà lá cứ reo reo…
Sao khi ở gần với phố, chẳng yêu phố nhiều hơn nữa, để bây giờ hối tiếc… ừ, thời
gian… Bảy ngày là đủ một tuần. Không phải 7 ngày chờ mong nữa, mà dằng dặc…
Đồi bạch đàn vẫn thong thả đồng ca bài hát cổ xưa của mình. Bạch đàn ơi, bỡ ngỡ gì
mà em xoè lá? Hương bạch đàn, nhựa bạch đàn gợi điều mơ mộng quá… Em ở đâu
chẳng về, anh dắt tay em… Qua đồi này, là tới đồi sim, tới đồi hạt dẻ. Sim cuối mùa,
đừng bắt đền, làm môi em tím. Tím lưng đồi là màu tím hoa mua, không, chẳng phải
đâu đấy là màu tím Huế, màu tím của em…
Chao ôi, là nhớ… Mình tưởng tượng thấy bóng dáng yêu dấu đang nép sau thân bạch
đàn ứ nhựa. Đừng giận gì nữa hết, xa nhau lâu rồi, còn có điều gì để giận… Hay P.
giận vì lá thư cuối tháng 6 không được trả lởi? Không viết nổi P. ạ, không sao viết nổi,
vì nỗi thương cảm sâu sa bóp nghẹt trái tim T…
Khuôn mặt dịu dàng ấy, sao hôm nay im lặng thế, xôn xao trong lòng ta, là vần thơ
của nhà thơ nào, lâu lắm không nhớ rõ, cứ lan lan…
“Em đã nói biết bao lời,
Với cha, với mẹ, với người xung quanh
Với biển cả với cây xanh
Sao em không nói với anh một lời?…”
Ôi, giọng nói ấy, cứ làm ta rạo rực, giọng nói đánh thức trong ta những niềm xao
xuyến đã chết lặng và làm cho hồn ta, trái tim ta tràn đầy hạnh phúc. Suốt từ hôm
ấy… Hơi thở ấy đã phả vào từng sợi tóc, bàn tay thân yêu ấy đã xoa dịu cho ta nhưng
vết thương. Ta tưởng chừng có thể tan biến đi, “thân cát bụi lại trở về cát bụi”… Ta
muốn sụp xuống trước trái tim trong sáng ấy… ơi, thần tượng của ước mơ ta…
Luôn luôn ta mơ ước, ta khao khát, một buổi sáng đẹp trời, nhớ một màu xanh kỳ dị,
ta thức giấc trong hạnh phúc. Một người đang chờ ta, đang đợi ta. Đó là P., đó là P.
yêu dấu…
Ta khao khát một sớm mùa hạ, cùng nắm tay P. trong phòng đọc sách… Mùi sách
quyến rũ hay gì mà làm ta xao xuyến thế?
Ta thường mơ, một mùa nào đó, dẫu là mùa đông ướt át và nhầy nhụa… Ta đứng trên
sân ga lắng nghe tiếng mưa đuổi nhau trên bức tường rêu xám. Lòng ta đâu có thế, ta
đứng chờ…
Và kia, P. yêu dấu của ta, từ trên tàu bước xuống, P. ùa vào lòng ta hay ta chạy đến dụi
đầu vào gò má ấy, mấy năm trời còn gì nữa. P. hé miệng cười, nhưng ta đọc trong đôi
mắt một màu ươn ướt. P. đưa ta về ngôi nhà 72, mới một lần ta hững hờ đến. Và P. sẽ
kể cho ta vô vàn chuyện trên đất nước xa xôi.
Còn ta, sẽ kể cho P., về chuyện đời, vê những đồi phi lao Hà Bắc, mà mỗi bóng áo
đều gợi nhớ tới P., sẽ kể cho P. những “mảnh liềm trăng cong một nỗi nhớ nhau”…
Ta sẽ kể cho P. rằng: P. ơi, một buổi họp trong đình, đình cũ kỹ, ống máng han rỉ, ta
thèm được tay cầm khẩu súng loáng ngời ánh thép. Đạn vuốt nòng lắm, ta yêu khẩu
AK này như yêu người nào ấy, khẩu súng ơi, súng sẽ gắn bó với đời ta, cùng sống chết
với ta…
Khi ấy, chắc chắn ta sẽ lại nói với P. rằng, cả cuộc đời ta, cuộc sống riêng tư của ta
thuộc về P. vĩnh viễn. Từ lâu rồi, cuộc sống tâm hồn của ta tan biến đi trong tình cảm
nồng nàn của P., cái lò lửa rực hồng ấy.
Tới đây, ta mới hiểu thế nào là sự sợ hãi khi phải vĩnh viễn xa P. Đừng, lạy chúa, viễn
cảnh ấy đừng bao giờ xảy ra cả, đừng, mà ta sống với ai, sống trơ trọi và cô đơn thế, ta
làm sao sống nổi.
Khổ vô cùng là nói thật chỗ yếu của lòng mình. Ta đâu muốn thế. P. bảo: “Thích thư
T. lắm!” Chẳng phải thế đâu P. ạ, rồi sau này nhiều năm, quay nhìn về dĩ vãng P. sẽ
cười và lúc đó hết cả “thích thư T. lắm”. Lúc đó, những lá thư mà T. viết bằng những
trưa không ngủ, bằng đêm khuya yên lặng trên trường Tổng hợp, trên mỏm đồi xa xôi
này, viết bằng cả tâm hồn, bằng tất cả nỗi xao xuyến của trái tim – chỉ là một mớ giấy
tầm thường, cần phải vứt đi.
Nhưng cũng chẳng sao, và cũng phải thôi. Vì ta chỉ thú nhận điều đó với riêng P., với
một mình P. thôi. Ai chưa gặp ta cũng đều bảo ta ngớ ngẩn. Ai mới gặp ta cũng bảo
rằng: Mình quý, mình thương. Ai ở với ta một thời gian cũng trỏ vào mặt ta mà bảo:
Dở người!…
Còn ta, chỉ cười, chỉ khóc. Ta bay trên mây, dưới gió. Ta đã gặp ai đâu, ngoài người ta
yêu quý, mà có một lần ta đã xoa tay vĩnh biệt! Rồi đây, người ấy có tự xa rời ta
không, không biết. Có phải đời ta là cầm AK đánh giặc. Đứng trên đồi phun lửa vào
kẻ thù, dạn dày, thầm lặng… chẳng cần ai biết đến đâu. Rồi lúc nào ta chết, chỉ cầu
xin một điều, trên nấm mồ của ta là cây bạch đàn; cây bạch đàn mảnh dẻ…
Nằm trong lòng đất, giá còn được nghĩ, ta sẽ làm thơ, ừ, làm thơ, làm toán… Chà, lập
dị, lập dị, ngớ ngẩn đến thế nữa cơ.
Sao bây giờ ghét đời sinh viên đến thế. Thõng thẹo và ọp ẹp. Phải sống khỏe mạnh,
dữ dội trong lửa đạn.
Dân quý anh bộ đội. Bọn mình đi xin tre về làm nhà ở. Tre đấy, ngoài vườn, anh cứ ra
mà chặt. Tre đực, tre cái, tre bánh tẻ đan lóng đôi, lóng mốt, đan sọt đeo đá sau lưng.
Cây tre VN, lòng bà mẹ VN, có phải bây giờ ta mới hiểu đâu. Nhưng bây giờ ta mới
được nhìn, được thấy…
Chương 5
24.10.1971
Nằm mãi mà không ngủ được. Đêm nay là đêm thứ bao nhiêu rồi, mình thức dậy.
Đồng hồ chỉ 11 giờ kém 15, Kisinhốp là mấy giờ rồi?
Lâu lắm, 20 ngày đã qua, bận bịu và mệt mỏi, mình bỏ quên trang nhật ký, nhưng có
lúc nào quên được Như Anh. Tháng mười, tháng sinh nhật – Tuần lễ sinh nhật đi qua.
Ừ, trời cũng trong xanh hơn và lòng ta cũng mở ra đón gió. Tuổi 19, 20…
Như Anh ở đâu, nắm lấy bàn tay T., gió rét về thổi tím ngọn bàng, đâu rồi hơi ấm của
ta?
Ai bảo những ngày này không đẹp, không thơ?
25.10.1971
Tháng 11 sắp đến rồi… Và như vậy, tháng 8 đã trôi qua…
Buổi sáng đến chậm chạp.
14.11.1971
Đã 10 giờ đêm, chủ nhật. Đang buổi tiếng thơ của Đài Tiếng nói Việt Nam. Khi còn ở
nhà, những buổi tiếng thơ này, mình ngồi bên bờ ao hay bên một cái giao thông hào
ngập nước, nghe những giọng ngâm quen thuộc. Thế mà hôm nay, ở đây, ở cái đất Hà
Bắc này, mình ngồi viết, vừa lắng tai nghe… Kim Cúc đấy, với giọng hơi mượt mà,
chải chuốt, Kim Dung, Trần Thị Tuyết. Nghe quen như giọng người hàng xóm.
Buổi trưa, vừa gửi thư cho P. Có lẽ đó là cái thư cuối cùng ở đất Hà Bắc. Từ ngày mai,
không được ra khỏi chỗ đóng quân nữa. Không biết đi lúc nào – Lo lắm, liệu P. có
hiểu và thông cảm cho không – Biết làm sao được, khi bản thân mình không thể chủ
động trong chuyện đó.
Gặp Dũng, bạn học từ lớp 8 – Dũng học Đại học Y khoa, và bây giờ ở C.17. Dũng
cũng tốt đấy, hiểu mình và rất quấn quít. Vẫn gặp trên sân bóng, xung quanh là phi
lao, có con đường chui qua, đỏ bụi. Dũng hỏi thăm hết bạn bè. Xuyên đi Bungari rồi.
Châu đi Cuba, Dung đi Tiệp hay Đức gì đó… Thường thôi… đừng coi trọng họ, đi
nước ngoài thì người ta thích, nhưng ít ai thích người đi nước ngoài, có cái gì hơi là
lạ…
Dũng nhắc cho mình chuyện lớp, trường, chuyện thằng Khang, Nhữ Đình Huân, cái
tụi nghịch như quỉ sứ – Ngô Bình nữa, nó đang đóng ở Quảng Bình, bị thương và đã
được kết nạp Đảng hay sao ấy… Nhanh quá, mới đó mà nay mỗi đứa một phương
trời. Mình nhớ mấy câu thơ tặng Bình khi tiễn Bình đi bộ đội hồi cuối lớp 10…
Dũng hỏi mình về chuyện đi nước ngoài. Khơi dậy làm gì chuyện ấy. Nó khiến mình
buồn bã suốt một thời gian dài. Thật hèn hạ và xấu xa.
Mình kể cho Dũng cuộc sống từ khi hết lớp 10. Dũng cũng đồng ý với mình và tỏ ra
hài lòng với cách sống ấy. Kể cũng lạ, sao Dũng dễ dàng đồng ý với ý kiến của mình
thế.
Dũng bảo mình cần đoàn kết sâu, rộng với bạn bè hơn nữa. Dũng bảo: “Hãy biết liên
kết với các bạn bằng những mặt tốt của họ. Nên triệt để nối mình với các bạn bằng cái
tốt đó”. Kể cũng hay. Mình sẽ cố gắng.
Đá bóng với B1. Gió mạnh. Dạo còn ở trường, mình với Thanh hay ở cùng một bên,
bây giờ Thanh ở B1, còn mình lại sang B2. Đá bóng mà nhớ trường, nhớ kỷ niệm đến
thế – ơi, Yên Hoà B… đâu rồi?
Buổi tối ba má và anh của Minh lên chơi. Còn mình thì chẳng có ai lên cả – Buồn và
nhớ gia đình vô cùng. Nhưng mình không tán thành chuyện lên thăm đó. Mình ngồi
nghe rất lâu chuyện hai bác và anh Bằng nói. Chẳng có gì mà phải lên tận đây cả –
Nhớ Minh ư, mà sao có vẻ thờ ơ tệ. Không giống trong tưởng tượng của mình chút
nào? Hay là tại mình không ở trong tình trạng đó nên mình không biết, không cảm
hiểu?
Không, rõ ràng không. Gia đình đi từ 5h30 sáng mãi trưa mới đến nơi. Mang cả cơm
nắm và thức ăn định ăn ở Bắc Giang, nhưng không hiểu sao lại về tận đây ăn. Buổi
trưa, bọn mình ăn cơm, phải sang chỗ anh Hinh ăn tập trung. Mình chào gia đình và
Minh cũng đi ăn – ở nhà còn ba má và anh Bằng – Sao hai bác và anh không gọi
Minh ở lại ăn cùng.
Không hiểu ra sao cả – Lạ thật – Gia đình mình thì nhất định không thế rồi.
Nói chung, mình chưa hiểu rõ lắm về Minh và gia đình cậu ta. Biết chung chung, đại
khái.
Tối nay, liên hoan tiểu đoàn, ăn cơm muộn nên được phép nghỉ. Mình nói chuyện với
bà.
Bà kể chuyện “Duyên Tiên”, chuyện “Trương Chi”,v.v… làm mình như trở lại trẻ con.
Thương anh Đổng Vĩnh ra gốc cây đề và khóc, ngóng lên trời tìm nàng Bảy.
Nàng tiên ơi, tấm lụa trắng đâu rồi, và gốc cây đề ấy ở đâu trong rừng sâu kia?
“Mùa xuân hoa nở, thiếp về
Mời chàng ra gốc cây đề nhận con…”
Bà bảo mình đọc “Bầm ơi”, mình đọc, gió lành lạnh và mình thương mẹ quá, mẹ ơi…
Bà đã 60 tuổi – Bà bảo, năm nay là “năm tuổi”, mẹ mình đã qua tuổi 49 và 53 rồi,
không bị làm sao là mừng lắm. Lạy trời cho mẹ sống lâu, sống mãi và đừng ốm đau gì
cả. Thương mẹ lắm mà không biết làm gì. Thù thằng Mỹ quá, phải giết hết nó đi.
15.11.1971
Thằng Mỹ, nó là cái gì mà mơ hồ như thế? Đi bộ đội, mình cảm thấy hơi mông lung
trong việc nhìn nhận kẻ thù. Hố bom còn toác ra ở trên đồi. Và cảnh làng xóm tiêu
điều, bị tàn phá ngày 29-2-1968, ta đâu có quên. Mặt mũi thằng Mỹ thế nào? Hẳn đó
cũng là khuôn mặt người bị bóp méo xộc xệch. Hẳn đó là bộ mặt nhăn nhúm trước
ánh sáng mặt trời.
Đêm ấy, thật đau lòng. Hồi chiều, bị ném 40 quả bom. Điện bị đứt lung tung. Làng
xóm chìm trong tang tóc và bóng đêm. Ở ngay trước ngõ là một bát hương hiu hiu
khói. Anh Phúc bị bom tiện đứt cả chân tay, nằm trong chiếc quan tài đỏ, ngọn đuốc
nứa thổi phừng phừng, cái xe bò lăn lộc cộc… Sao giống “chiếc quan tài” như thế.
Không, suốt đời ta không quên, ta không quên cảnh em bé miền Nam đập tay lên
vũng máu. Dưới tay em lẽ ra là chậu nước trong mát – cái biển mênh mông của tuổi
thơ hồn nhiên, nhí nhảnh…
Thằng Mỹ, nó thế nào? Trời ơi, sao lâu quá. Bây giờ cái khao khát nhất của ta – cái
day dứt trong ta là khi nào được vào miền Nam, vào Huế, Sài Gòn – xọc lê vào thỏi
tim đen đủi của quân thù.
Ta ngồi đây, thanh bình như thế. Nhưng ở cuối trời Tổ quốc, bao nhiêu người con ưu
tú của dân tộc đang đổ máu, đang giập gãy từng khúc xương, đang bị kẻ thù đày đọa
và các đồng chí của ta, anh giải phóng quân kiên cường đang nín thở đợi giờ xung
trận, đang đói rét và đau nhói vết thương trên một cánh rừng già.
Vậy mà, lại đến giờ đi ngủ. Những cơn gió liu riu trên cành tre đưa ta vào cơn mơ – Ta
lại trở về với cái ngõ nhỏ của mình… Lạc lõng ư? Có lẽ nào!
Ta biết giấu mặt vào đâu, vào gấu quần hay gấu áo, khi đường Trường Sơn không có
dấu chân ta? Khi cả cuộc đời ta chưa có cái niềm vui mãnh liệt của người chiến thắng,
cắm cờ Tổ quốc trên cả nước thân yêu.
Phạm Tiến Duật, Triệu Bôn… Các anh đêm nay ở đâu trên Tổ quốc? Các anh có viết
những bài thơ, những truyện ngắn vào giờ này? Ôi, những nhà thơ, nhà văn – chiến
sỹ, ta gặp nhau trên cùng một ước mơ làm nhiều cho Tổ quốc. Chúng ta có mặt trên
trận tuyến ác liệt nhất, khi đất nước đánh thù, có gì tự hào hơn nữa.
Ta bỗng nhớ câu thơ của ...
 





