TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

Tài nguyên dạy học

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU WEBSITE HỌC LIỆU

    Kính gửi quý thầy cô giáo và các em học sinh thân mến! Website Thư viện Trường Tiểu học Lê Văn Tám – Thanh Hóa là không gian học tập số được xây dựng nhằm phục vụ hiệu quả công tác giảng dạy, học tập và phát triển văn hóa đọc trong nhà trường. Website cung cấp hệ thống tài nguyên phong phú như: giới thiệu sách hay, sách theo chủ đề, tài liệu tham khảo, học liệu điện tử, tin tức hoạt động thư viện và các nội dung hướng dẫn kỹ năng đọc – kỹ năng tìm kiếm thông tin phù hợp với lứa tuổi học sinh tiểu học. Giao diện thân thiện, dễ sử dụng giúp giáo viên thuận lợi khai thác tài liệu phục vụ bài giảng, đồng thời hỗ trợ học sinh hình thành thói quen đọc sách, tự học và khám phá tri thức một cách chủ động. Thư viện trân trọng kính mời quý thầy cô và các em học sinh thường xuyên truy cập website để cùng lan tỏa tình yêu sách, nuôi dưỡng tri thức và xây dựng môi trường học tập tích cực, nhân văn trong nhà trường.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z7307430848503_8e28d761b4e6e370e63fe337163221cf.jpg Z7307430840636_6c0f784596e92ebaf8c32f4dbfdb8619.jpg Z7307430821932_7ebe16cae01ea732e09436a31486fec6.jpg Z7307430828887_3d95fe1b57f808ccb81620bd079b99fd.jpg Z7307544372659_617cbe2b817d509dcc7348fb7a685de4.jpg Z7307544391587_4a4ebc51cd199f145d8b2409764c0c76.jpg Z7307544375474_1d0658d1435c6688f41f22eeb11322da.jpg Z7307544372902_f350534a53f1c4540642de4c780cac2b.jpg Z7307544340399_eb68ff964d283fd9d13ca3ee1ef7a433.jpg Z7307544335910_81eb86db101f851641919d036101c05b.jpg Z7307544325392_e8a27a5c9c2dbe979af6df8da3074416.jpg Z7307544323346_5ee7dd6a5a6e3088b8cbb7e5c0396ffb.jpg Z7307430898228_b5b22da7c6d22ebca198ee2dd9c0bf12.jpg Z7307430864241_9a20595ea1cf0b5e5e986f91e96d0429.jpg Z7307430886828_75df77cd44369a885c4993cfa9aed936.jpg Z7307430877743_6e2fa3474c46957d62577d7c1592fcae.jpg Z7307430870741_8ca6be50325ae46467cfa5dde763b9d4.jpg Z7307430859513_52b27e98fd7b13884f232d8b4809514f.jpg

    💕💕 Hãy đọc mỗi ngày, không phải để trở nên khác người, mà để trở thành phiên bản hiểu biết và nhân văn hơn của chính mình.💕💕

    Sách nói Chuyện của Bắp Ăn Mơ Và Xóm Đồi Rơm - Cao Khải An

    Einstein - Cuộc đời và vũ trụ

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
    Ngày gửi: 21h:09' 04-03-2024
    Dung lượng: 2.8 MB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    https://thuviensach.vn

    https://thuviensach.vn

    Cách Isaacson viết về công trình khoa học của Einstein thật tuyệt vời: chính xác, đầy đủ và
    ở mức chi tiết phù hợp với độc giả bình dân. Tận dụng sự phong phú của nguồn tài liệu
    lịch sử mới được công bố gần đây, ông đã viết ra cuốn tiểu sử đáng đọc nhất về Einstein.
    — A. Douglas Stone, Giáo sư vật lý tại Đại học Yale
    Là kết quả của việc nghiên cứu kỹ càng và được viết rất lôi cuốn, cuốn sách này đã làm
    được một việc tuyệt vời là tóm tắt các khái niệm đằng sau những học thuyết của
    Einstein… Isaacson cũng đã xuất sắc nêu bật các nét tính cách của Einstein.
    — Dennis O'Brien, The Baltimore Sun
    Isaacson đưa chúng ta đến với một cuộc đời, chứ không đơn thuần là đến với một trí tuệ,
    mà có lẽ là cuộc đời vĩ đại nhất của thế kỷ XX; không chỉ có vậy, [ông còn cho thấy] đó còn
    là một nhân cách cũng bất toàn và có lúc sai lầm như tất cả chúng ta. Sự kết hợp độc đáo
    giữa tài hoa tuyệt đỉnh và tính thất thường của con người vĩ đại đó đã đưa cuốn tiểu sử
    này vào hàng những cuốn tiểu sử xuất sắc của thời đại.
    — Joseph J. Ellis, tác giả của cuốn Founding Brothers: The Revolutionary Generation
    [Những người anh em lập quốc: Thế hệ cách mạng]
    Isaacson có một biệt tài thú vị là thể hiện được chất thơ của vật lý... Cực kỳ hấp dẫn.
    — Susan Larson, The Times-Picayune (New Orleans)

    https://thuviensach.vn

    Santa Barbara, năm 1933
    Sống ở đời cũng giống như đi xe đạp vậy,
    để giữ thăng bằng con phải đạp không ngừng.
    — ALBERT EINSTEIN, TRONG THƯ GỬI CON TRAI EDUARD —
    NGÀY 5 THÁNG HAI NĂM 1930

    https://thuviensach.vn

    LỜI CẢM ƠN

    D

    iana Kormos Buchwal, chủ biên các bài nghiên cứu của Einstein, đã đọc cuốn sách
    này rất tỉ mỉ, góp ý rất nhiều và hiệu chỉnh bản thảo nhiều lượt. Không chỉ vậy, chị
    còn giúp tôi tiếp cận sớm và đầy đủ các bài nghiên cứu của Einstein vốn mới chỉ
    được công bố vào năm 2006, và hướng dẫn tôi tìm hiểu chúng. Chị cũng là chủ nhà kiêm
    người điều phối tốt bụng cho các chuyến công tác của tôi tại Dự án các bài nghiên cứu của
    Einstein ở Caltech. Chị đam mê công việc và có khiếu hài hước, nhờ thế những người làm
    việc cùng chị luôn có thêm niềm vui trong công việc.
    Hai phụ tá của chị cũng giúp tôi rất nhiều khi hướng dẫn tôi tìm hiểu những bài nghiên
    cứu mới công bố, và khai thác nguồn tư liệu lớn mà trước đây nằm im trong khối tài liệu
    lưu trữ. Tilman Sauer, người soát và viết chú giải cho cuốn sách này, đặc biệt là các phần
    liên quan đến quá trình tìm kiếm các phương trình cho Thuyết Tương đối rộng của
    Einstein và cuộc theo đuổi lý thuyết Trường Thống nhất1 của ông. Ze'ev Rosenkranz,
    người biên tập về mặt lịch sử của các bài nghiên cứu, là người đưa ra những kiến giải về
    thái độ của Einstein đối với nước Đức và di sản Do Thái. Trước đây, ông là người phụ trách
    các tư liệu về Einstein tại Đại học Hebrew, Jerusalem.
    Barbara Wolff, hiện phụ trách khối tư liệu này ở Đại học Hebrew, đã cẩn trọng kiểm tra
    từng trang bản thảo, hiệu chỉnh từ những lỗi lớn cho đến từng lỗi nhỏ. Chị cảnh báo rằng
    mình có tiếng là soi từng chi tiết, và tôi thật lòng biết ơn chị về tất cả những chi tiết mà chị
    đã phát hiện ra. Tôi cũng rất cảm kích sự khích lệ của Roni Grosz, người phụ trách ở trung
    tâm lưu trữ này.
    Brian Greene, nhà vật lý thuộc Đại học Columbia và là tác giả của cuốn The Fabric of the
    Cosmos [Kết cấu của vũ trụ] là một người bạn và cũng là một biên tập viên không thể
    thiếu. Anh giải thích cho tôi về vô số những chỗ cần sửa, gọt giũa cách diễn đạt ở những
    phần có nội dung khoa học và đọc bản thảo cuối cùng. Anh là bậc thầy cả trong khoa học
    lẫn ngôn ngữ. Ngoài công trình nghiên cứu về lý thuyết dây, anh và vợ là Tracy Day còn tổ
    chức một festival khoa học hằng năm tại thành phố New York, những buổi hội họp này
    giúp lan truyền nhiệt huyết mà anh dành cho ngành vật lý, điều vốn được thể hiện rất rõ
    qua các công trình nghiên cứu và các cuốn sách của anh.
    Lawrence Krauss, giáo sư vật lý tại Đại học Case Western Reserve và là tác giả của cuốn
    Hiding in the Mirror [Nấp trong gương], cũng đọc bản thảo và kiểm tra kỹ lưỡng các phần
    về Thuyết Tương đối hẹp, Thuyết Tương đối rộng, vũ trụ học; anh cho tôi nhiều gợi ý hay
    cùng những hiệu chỉnh rất cần thiết. Anh cũng là người có khả năng truyền cho người
    khác ngọn lửa đam mê dành cho vật lý.
    Qua Krauss tôi được một người do anh đỡ đầu tại Case – Craig J. Copi, một giảng viên dạy
    thuyết tương đối ở trường – giúp đỡ. Tôi đã nhờ anh đọc kỹ toàn bộ phần khoa học và toán
    học, và tôi biết ơn công sức biên tập của anh.
    Douglas Stone, giáo sư vật lý tại Yale, đã giúp tôi kiểm tra phần khoa học trong cuốn sách.
    Là một nhà lý luận về chất ngưng tụ, hiện anh đang viết một cuốn sách quan trọng về

    https://thuviensach.vn

    những cống hiến của Einstein đối với cơ học lượng tử. Không chỉ giúp tôi kiểm tra các nội
    dung khoa học, anh còn hỗ trợ tôi viết các chương về bài nghiên cứu lượng tử ánh sáng
    năm 1905, thuyết lượng tử, thống kê Bose-Einstein và thuyết động học.
    Murray Gell-Mann, nhà khoa học nhận giải Nobel Vật lý năm 1969, là một người hướng
    dẫn nhiệt tình rất tuyệt vời từ những ngày đầu cho đến những ngày cuối của dự án. Ông
    giúp tôi sửa các bản thảo đầu tiên, biên tập các chương về thuyết tương đối, cơ học lượng
    tử, và giúp soạn phần giải thích những ý kiến phản đối của Einstein về tính bất định trong
    thuyết lượng tử. Với học vấn uyên thâm, tính hài hước, cảm nhận riêng của ông về những
    nhân vật có liên quan, ông đã mang lại niềm vui lớn lao cho tôi trong quá trình thực hiện
    cuốn sách này.
    Arthur I. Miller, giáo sư danh dự về lịch sử và triết học khoa học tại Đại học College,
    London, là tác giả của cuốn Einstein, Picasso và cuốn Empire of the Stars [Đế chế những vì
    sao]. Ông đã đọc đi đọc lại các bản chỉnh sửa những chương có nội dung khoa học của tôi,
    chỉnh sửa nhiều chỗ, đặc biệt là đoạn về thuyết tương đối hẹp (ông là người viết cuốn sách
    đầu tiên về thuyết này), thuyết tương đối rộng và thuyết lượng tử.
    Sylvester James Gates Jr., Giáo sư vật lý tại Đại học Maryland, đã đồng ý đọc bản thảo của
    tôi khi ông đến Aspen tham dự một hội nghị về Einstein. Ông đưa ra những sửa đổi tinh tế
    kèm theo những bình luận thông minh, và giúp tôi diễn đạt lại một số đoạn viết về khoa
    học.
    John D. Norton, Giáo sư tại Đại học Pittsburgh, là chuyên gia về quá trình tư duy của
    Einstein khi phát triển thuyết tương đối hẹp và sau đó là thuyết tương đối rộng. Anh giúp
    tôi đọc lại những phần nội dung này trong cuốn sách, biên tập và đưa ra những bình luận
    hữu ích. Tôi cũng biết ơn những chỉ dẫn của hai học giả đồng nghiệp của anh, vốn là hai
    chuyên gia về quá trình phát triển các học thuyết của Einstein: Jürgen Renn của Viện Max
    Planck ở Berlin và Michel Janssen ở Đại học Minnesota.
    George Stranahan, thành viên sáng lập Trung tâm Vật lý Aspen, cũng đồng ý đọc và đánh
    giá bản thảo. Ông đặc biệt giúp tôi biên tập các phần nội dung liên quan đến bài nghiên
    cứu về lượng tử ánh sáng, chuyển động Brown, lịch sử và kiến thức về thuyết tương đối
    hẹp.
    Robert Rynasiewicz, nhà triết học khoa học tại Johns Hopkins, đã đọc nhiều chương có nội
    dung về khoa học và đưa ra những gợi ý hữu ích về cuộc kiếm tìm thuyết tương đối rộng.
    N. David Mermin, giáo sư vật lý lý thuyết ở Cornell và là tác giả cuốn It's About Time:
    Understanding Einstein's Relativity[Tất cả đều là thời gian: Hiểu thuyết tương đối của
    Einstein], đã biên tập và chỉnh sửa bản cuối của chương giới thiệu, các chương V, VI cùng
    các bài nghiên cứu năm 1905 của Einstein.
    Gerald Holton, Giáo sư vật lý của Harvard, là một trong những người tiên phong nghiên
    cứu về Einstein, và ông vẫn là người đưa đường chỉ lối trong đề tài này. Tôi thấy vô cùng
    hãnh diện vì ông sẵn lòng đọc cuốn sách của tôi, bình luận và khích lệ một cách hào hiệp.
    Đồng nghiệp của ông ở Harvard, Dudley Herschbach, người đã có nhiều hoạt động giáo
    dục khoa học, cũng hết lòng giúp tôi. Cả Holton và Herschbach đều cho tôi những bình
    luận hữu ích, và còn dành cả một buổi chiều ngồi với tôi tại văn phòng của Holton để trao
    đổi về những gợi ý và trau chuốt phần mô tả về các nhân vật đóng vai trò lịch sử.
    Ashton Carter, giáo sư về khoa học và hợp tác quốc tế tại Harvard, đã đọc và kiểm tra kỹ
    bản thảo đầu tiên. Fritz Stern ở Đại học Columbia, tác giả của cuốn Einstein's German

    https://thuviensach.vn

    World [Thế giới Đức quốc của Einstein], đã khích lệ và cho tôi những lời khuyên khi tôi
    mới bắt tay vào việc viết. Robert Schulmann, một trong những biên tập viên đầu tiên
    trong Dự án các bài nghiên cứu của Einstein, cũng vậy. Jeremy Bernstein, người đã viết
    nhiều cuốn sách hay về Einstein, cảnh báo tôi rằng khoa học khó nhằn. Ông nói đúng, và
    tôi rất biết ơn ông.
    Ngoài ra, tôi cũng nhờ hai giáo viên dạy vật lý ở trường trung học đọc kỹ cuốn sách để đảm
    bảo kiến thức khoa học trong đó là chuẩn xác và dễ hiểu ngay cả đối với những người mà
    lần cuối học môn vật lý là khi còn ngồi trên ghế trường trung học. Nancy Stravinsky
    Isaacson dạy vật lý ở New Orleans cho đến khi cơn bão Katrina cho chị thêm nhiều thời
    gian rảnh. David Derbes dạy vật lý tại trường thực nghiệm Đại học Chicago2. Những bình
    luận của họ rất sắc bén và nhắm tới sự dễ hiểu dành cho bạn đọc ít am hiểu về vật lý lượng
    tử.
    Trong nguyên lý bất định có một hệ luận như sau: một cuốn sách dù thường được theo dõi
    đến mức nào đi chăng nữa cũng vẫn sót lỗi. Những lỗi đó là do tôi.
    Tôi cũng nhận được nhiều sự giúp đỡ từ những độc giả không làm về khoa học, họ đã cho
    tôi những gợi ý hữu ích từ quan điểm của một bạn đọc thông thường về nhiều phần hoặc
    toàn bộ bản thảo. Họ gồm có William Mayer, Orville Wright, Daniel Okrent, Steve
    Weisman và Strobe Talbott.
    Trong 25 năm qua, Alice Mayhew ở nhà xuất bản Simon & Schuster luôn là biên tập viên
    phụ trách các tác phẩm của tôi, còn Amanda Urban ở ICM là người đại diện cho tôi. Tôi
    không thể hình dung ra những cộng sự nào tuyệt vời hơn họ, và một lần nữa họ đã nhiệt
    tình và giúp đỡ bằng các bình luận về cuốn sách. Tôi cũng đánh giá cao sự giúp đỡ của
    Carolyn Reidy, David Rosenthal, Roger Labrie, Victoria Meyer, Elizabeth Hayes, Serena
    Jones, Mara Lurie, Judith Hoover, Jackie Seow và Dana Sloan ở Simon & Schuster. Ngoài ra,
    tôi cũng biết ơn Elliot Ravetz và Patricia Zidulka về sự hỗ trợ to lớn của họ trong những
    năm qua.
    Natasha Hoffmeyer và James Hoppes đã dịch cho tôi những bức thư và bài viết bằng tiếng
    Đức của Einstein, đặc biệt là những tài liệu mới, vẫn chưa được dịch, và tôi cảm kích sự
    mẫn cán của họ. Jay Colton, biên tập viên ảnh của mục “Con người Thế kỷ” của tạp chí
    Time, đã hoàn thành một cách rất sáng tạo công việc tìm kiếm hình ảnh cho cuốn sách
    này.
    Tôi còn có hai độc giả và một bán độc giả quý giá hơn tất thảy. Người thứ nhất là cha tôi,
    Irwin Isaacson, là một kỹ sư, ông đã truyền cho tôi tình yêu khoa học, với tôi ông là người
    thầy tuyệt vời nhất. Tôi biết ơn ông về những gì mà ông cùng người mẹ quá cố của tôi đã
    cho tôi biết về vũ trụ, và tôi cũng biết ơn người mẹ kế thông minh, sáng suốt của mình, bà
    Julanne.
    Một độc giả rất đỗi quý giá khác là vợ tôi, Cathy, cô đã đọc từng trang bản thảo bằng hiểu
    biết, kiến thức thường thức và sự tò mò. Bán độc giả quý giá của tôi là con gái Betsy của tôi,
    con bé thường chọn ra một số phần nội dung để đọc. Những gì con bé quả quyết từ phần
    nội dung sách mà nó đọc làm những đoạn đó thật đẹp. Cả hai là tình yêu của đời tôi.

    https://thuviensach.vn

    CÁC NHÂN VẬT CHÍNH

    M

    ichele angelo besso (1873-1955): Bạn thân nhất của Einstein. Ông là một kỹ sư
    thú vị nhưng lại có tính lơ đãng. Ông gặp Einstein ở Zurich rồi sau đó theo bước
    Einstein về làm tại cơ quan cấp bằng sáng chế ở Bern. Ông là khán giả lắng nghe
    Einstein trình bày ý tưởng về thuyết tương đối hẹp năm 1905. Ông kết hôn với Anna
    Winteler, em gái của người bạn gái đầu tiên của Einstein.
    NIELS BOHR (1885-1962): Nhà khoa học người Đan Mạch tiên phong về thuyết lượng tử.
    Tại các hội nghị ở Solvay và những cuộc hội họp sau đó của giới trí thức, ông thường phản
    bác được những tranh luận quyết liệt của Einstein đối với lối luận giải Copenhagen của
    ông về cơ học lượng tử.
    MAX BORN (1882-1970): Nhà vật lý và toán học người Đức. Ông cùng Einstein trao đổi
    thư từ mật thiết và chia sẻ nhiều ý tưởng hay trong suốt 40 năm. Ông đã cố gắng thuyết
    phục Einstein tin vào cơ học lượng tử. Vợ ông, bà Hedwig, là người luôn cật vấn Einstein
    trong các vấn đề cá nhân.
    HELEN DUKAS (1892-1982): Thư ký trung thành của Einstein. Bà đóng vai trò như thần
    khuyển Cerberus chuyên gác cửa bảo vệ Einstein, sống cùng nhà với ông từ năm 1928 cho
    đến khi ông qua đời. Sau này, bà trở thành người bảo vệ di sản và các bài nghiên cứu của
    ông.
    ARTHUR STANLEY EDDINGTON (1882-1944): Nhà vật lý học thiên thể và là người ủng hộ
    thuyết tương đối, các quan sát về hiện tượng nhật thực của ông năm 1919 đã xác nhận
    mạnh mẽ những tiên đoán của Einstein về việc lực hấp dẫn bẻ cong ánh sáng.
    PAUL EHRENFEST (1880-1933): Nhà vật lý gốc Áo. Ông là người có tinh thần mãnh liệt
    nhưng dễ dao động. Ông gắn bó với Einstein trong chuyến đi tới Prague năm 1912, sau đó
    ông là giáo sư tại Leiden, và hay đón tiếp Einstein khi ông tới đó.
    EDUARD EINSTEIN (1910-1965): Con trai thứ hai của Mileva Marić và Einstein. Thông
    minh và có khiếu mỹ thuật, Eduard say mê Freud3 và hy vọng trở thành một bác sỹ
    chuyên khoa tâm thần. Thế nhưng, khi chừng hai mươi tuổi, chứng tâm thần phân liệt
    khiến anh phải sống trong một bệnh viện tâm thần ở Thụy Sĩ trong phần lớn phần đời còn
    lại.
    ELSA EINSTEIN (1876-1936): Người chị họ đời thứ nhất và cũng là người4 vợ thứ hai của
    Einstein. Hai người con riêng của bà, với một thương nhân ngành dệt may tên là Max
    Löwenthal, là Margot và Ilse Einstein. Bà và các con đổi họ theo họ thời con gái của bà là
    Einstein sau khi bà ly dị chồng năm 1908. Bà kết hôn với Einstein năm 1919. Thông minh
    hơn những gì bà cố tình tỏ ra, bà luôn biết cách cư xử với ông.
    HANS ALBERT EINSTEIN (1904-1973): Con trai đầu của Mileva Marić và Einstein, mặc dù
    đây là một vai trò khó khăn nhưng anh đã đảm đương nó một cách khéo léo. Anh học
    chuyên ngành kỹ thuật tại trường Bách khoa Zurich. Năm 1927, anh kết hôn với Frieda

    https://thuviensach.vn

    Knecht (1895-1958). Họ có hai con trai là Bernard (sinh năm 1930) và Klaus (1932-1938).
    Họ nhận nuôi một người con gái tên là Evelyn (sinh năm 1941). Anh chuyển tới Hoa Kỳ
    năm 1938 và trở thành giáo sư chuyên ngành thủy lực tại Berkeley. Sau khi Frieda qua
    đời, anh đi bước nữa với Elizabeth Roboz (1904-1995) năm 1959. Bernard, cháu trai của
    Einstein, có năm người con, đây là những người chắt của Einstein mà người ta được biết.
    HERMANN EINSTEIN (1847-1902): Cha của Einstein, xuất thân từ một gia đình người Do
    Thái ở vùng nông thôn Swabia. Ông cùng với người em trai là Jakob mở các công ty điện ở
    Munich rồi ở Ý, nhưng họ không mấy thành công.
    ILSE EINSTEIN (1897-1934): Con gái của Elsa Einstein từ cuộc hôn nhân đầu tiên. Cô từng
    yêu vị bác sỹ thích phiêu lưu Georg Nicolai, nhưng lại kết hôn với nhà báo Rudolph Kayser
    vào năm 1924, sau này Rudolph viết một cuốn sách về Einstein với bút danh là Anton
    Reiser.
    LIESERL EINSTEIN (1902-?): Con gái của Einstein và Mileva Marić trước khi họ kết hôn.
    Einstein có lẽ chưa bao giờ gặp cô bé. Cô bé có thể đã được để lại và cho làm con nuôi ở quê
    mẹ, vùng Novi Sad thuộc Serbia, hoặc cũng có thể đã qua đời vì bệnh ban đỏ vào cuối năm
    1903.
    MARGOT EINSTEIN (1899-1986): Con gái của Elsa Einstein từ cuộc hôn nhân đầu. Cô là
    một nhà điêu khắc nhút nhát. Cô lấy một người Nga tên là Dimitri Marianoff vào năm
    1930 nhưng họ không có con. Về sau, Marianoff đã viết một cuốn sách về Einstein. Margot
    ly dị Marianoff năm 1937 và chuyển tới Princeton sống cùng Einstein. Cô sống ở số 112
    phố Mercer cho đến khi qua đời.
    MARIA “MAJA” EINSTEIN (1881-1951): Em gái ruột duy nhất của Einstein và cũng là
    người bạn tâm giao thân thiết nhất của ông. Bà lấy Paul Winteler nhưng họ không có con.
    Năm 1938, bà một mình rời Ý để tới Princeton sống với anh trai.
    PAULINE KOCH EINSTEIN (1858-1920): Người mẹ cứng cỏi và có đầu óc thực tế của
    Einstein. Bà là con gái một thương nhân buôn ngũ cốc người Do Thái giàu có ở
    Württemberg. Bà kết hôn với Hermann Einstein năm 1876.
    ABRAHAM FLEXNER (1866-1959): Nhà cải cách giáo dục người Mỹ. Ông sáng lập Viện
    Nghiên cứu Cao cấp ở Princeton và tuyển Einstein về đó làm việc.
    PHILIPP FRANK (1884-1966): Nhà vật lý người Áo. Ông kế nhiệm người bạn Einstein của
    mình tại Đại học Prague, Đức. Sau này, ông có viết một cuốn sách về Einstein.
    MARCEL GROSSMANN (1878-1936): Người bạn cùng lớp siêng năng của Einstein tại
    trường Bách khoa Zurich. Ông chép bài môn toán cho Einstein, rồi sau đó giúp Einstein có
    được công việc tại Cục Cấp bằng Sáng chế. Là giáo sư về hình học họa hình tại trường Bách
    khoa, ông giúp Einstein về các kiến thức toán học cần thiết cho thuyết tương đối rộng.
    FRITZ HABER (1868-1934): Nhà hóa học người Đức và cũng là người mở đường cho chiến
    tranh dùng khí độc. Ông đã giúp Einstein xin được việc ở Berlin và đứng ra hòa giải cho
    Einstein và Marić. Là một người Do Thái cải đạo sang Cơ đốc với mục đích trở thành một
    công dân tốt của nước Đức, ông đã thuyết giảng cho Einstein về những cái lợi của sự đồng
    hóa, cho đến khi Đức Quốc xã lên nắm quyền.
    CONRAD HABICHT (1876-1958): Nhà toán học và nhà phát minh nghiệp dư. Ông là thành
    viên của bộ ba thảo luận có tên “Hội nghiên cứu Olympia” ở Bern và cũng là người nhận
    được hai bức thư nổi tiếng của Einstein năm 1905 báo trước về những bài nghiên cứu sắp

    https://thuviensach.vn

    tới.
    WERNER HEISENBERG (1901-1976): Nhà vật lý người Đức. Là người tiên phong trong
    lĩnh vực cơ học lượng tử, ông đã đưa ra công thức cho nguyên lý bất định mà Einstein
    phản đối suốt nhiều năm liền.
    DAVID HILBERT (1862-1943): Nhà toán học người Đức, chạy đua với Einstein nhằm tìm
    ra các phương trình toán học cho thuyết tương đối rộng năm 1915.
    BANESH HOFFMANN (1906-1986): Nhà toán học và nhà vật lý cộng tác với Einstein ở
    Princeton, sau đó viết một cuốn sách về Einstein.
    PHILIPP LENARD (1862-1947): Nhà vật lý người Đức gốc Hungary có các quan sát thí
    nghiệm về hiệu ứng quang điện được Einstein giải thích trong bài nghiên cứu về lượng tử
    ánh sáng năm 1905. Ông trở thành một người bài Do Thái, theo Đảng Quốc xã và ghét
    Einstein.
    HENDRIK ANTOON LORENTZ (1853-1928): Nhà vật lý thiên tài và thông thái người Hà
    Lan, ông có các học thuyết mở đường cho thuyết tương đối hẹp của Einstein. Đối với
    Einstein, ông như một người cha.
    MILEVA MARIć (1875-1948): Sinh viên vật lý người Serbia theo học tại trường Bách khoa
    Zurich. Bà là người vợ đầu tiên của Einstein và là mẹ của Hans Albert, Eduard và Lieserl. Là
    một người sôi nổi, có nghị lực nhưng cũng cả nghĩ và hay buồn, bà đã vượt qua nhiều trở
    ngại mà một nhà vật lý nữ trẻ tuổi, nhiều khát vọng phải đối mặt. Bà ly thân với Einstein
    năm 1914 và ly dị năm 1919.
    ROBERT ANDREWS MILLIKAN (1868-1953): Nhà vật lý thực nghiệm người Mỹ. Ông là
    người xác nhận định luật hiệu ứng quang điện của Einstein, và cũng là người mời Einstein
    làm học giả thỉnh giảng tại Caltech.
    HERMANN MINKOWSKI (1846-1906): Thầy dạy toán cho Einstein tại trường Bách khoa
    Zurich. Ông xem Einstein là “kẻ lười biếng”, ông cũng chính là người xây dựng công thức
    toán học cho thuyết tương đối hẹp dưới dạng không-thời gian bốn chiều.
    GEORG FRIEDRICH NICOLAI (1874-1964): Sinh ra tại Lewinstein. Ông là một bác sỹ theo
    chủ nghĩa hòa bình. Ông cũng là một người có máu phiêu lưu đầy sức hấp dẫn và có tài tán
    tỉnh. Ông là bạn và là bác sỹ của Elsa Einstein. Có lẽ ông cũng là người yêu của Ilse, con gái
    Elsa. Ông đã cùng Einstein viết một bài tổng luận về hòa bình năm 1915.
    ABRAHAM PAIS (1918-2000): Nhà vật lý lý thuyết sinh ra tại Hà Lan. Ông trở thành đồng
    nghiệp của Einstein ở Princeton và là người viết tiểu sử khoa học cho Einstein.
    MAX PLANCK (1858-1947): Nhà vật lý lý thuyết người Phổ. Ông là người bảo trợ của
    Einstein thời gian đầu và giúp đưa Einstein về Berlin làm việc. Bản năng bảo thủ của ông,
    cả trong cuộc sống và trong vật lý, khiến ông có quan điểm khác với Einstein, nhưng họ
    vẫn là những đồng nghiệp nhiệt tình và trung thành với nhau cho đến khi Đức Quốc xã
    nắm quyền.
    ERWIN SCHRÖDINGER (1887-1961): Nhà vật lý lý thuyết người Áo. Ông là người tiên
    phong trong lĩnh vực cơ học lượng tử, ông đứng về phía Einstein và bày tỏ sự nghi ngại về
    bản chất của tính bất định và xác suất.
    MAURICE SOLOVINE (1875-1958): Sinh viên triết người Romania ở Bern. Ông cùng

    https://thuviensach.vn

    Einstein và Habicht lập ra nhóm “Hội nghiên cứu Olympia”. Ông xuất bản các công trình
    của Einstein bằng tiếng Pháp và trao đổi thư từ trong suốt đời mình với Einstein.
    LEÓ SZILÁRD (1898-1964): Nhà vật lý sinh ra tại Hungary. Ông là người có sức quyến rũ
    nhưng cũng có nét lập dị. Ông gặp Einstein ở Berlin, và được nhận bằng sáng chế cho chiếc
    máy làm lạnh chế tạo cùng Einstein. Nhận ra phản ứng dây chuyền của hạt nhân, năm
    1939, ông cùng Einstein viết thư lên Tổng thống Franklin Roosevelt để cố thuyết phục
    Tổng thống chú ý đến khả năng chế tạo bom nguyên tử.
    CHAIM WEIZMANN (1874-1952): Nhà hóa học sinh ra ở Nga. Ông di cư sang Anh và trở
    thành Chủ tịch của Tổ chức Phục quốc Do Thái Thế giới. Năm 1921, ông đưa Einstein tới
    Mỹ lần đầu và dùng Einstein để tạo sức hút cho chuyến gây quỹ. Ông là Tổng thống đầu
    tiên của Israel, và Einstein đã được mời kế nhiệm vị trí này khi Weizmann qua đời.
    GIA ĐÌNH WINTELER: Einstein trọ tại gia đình này khi học ở Aarau, Thụy Sĩ. Jost
    Winteler5 là thầy dạy lịch sử và tiếng Hy Lạp của Einstein. Bà Rosa, vợ Winteler, đối với
    Einstein cũng như người mẹ thứ hai. Trong số bảy người con của họ, Marie trở thành bạn
    gái đầu tiên của Einstein, Anna lấy bạn thân nhất của Einstein là Michele Besso, và Paul
    cưới em gái Maja của Einstein.
    HEINRICH ZANGGER (1874-1957): Giáo sư triết học tại Đại học Zurich. Ông là bạn của cả
    Einstein lẫn Marić, và là người giúp hòa giải những mâu thuẫn cũng như đứng ra làm
    trung gian dàn xếp cho cuộc ly dị của họ.

    https://thuviensach.vn

    Chương I
    NGƯỜI LƯỚT CÙNG TIA SÁNG

    “T

    ôi đảm bảo sẽ có bốn bài báo khoa học”, giám định viên bằng sáng chế trẻ tuổi
    Einstein viết cho bạn mình. Bức thư này hóa ra lại mang một số tin tức trọng
    đại nhất trong lịch sử khoa học, nhưng tính chất quan trọng của nó bị ẩn đi
    bằng giọng điệu tinh nghịch đặc trưng của tác giả. Rõ ràng là ngay trước đó ông đã gọi bạn
    mình là “cá voi ướp lạnh”, và xin lỗi vì viết một bức thư “huyên thuyên không đáng bận
    tâm”. Chỉ khi tìm được thời gian để mô tả những bài báo mà mình đã viết trong thời gian
    rảnh, ông mới cho thấy dấu hiệu nào đó là ông đã cảm nhận được tầm quan trọng của
    chúng.
    “Bài báo đầu tiên bàn về bức xạ và các tính chất năng lượng của ánh sáng và có tính cách
    mạng rất cao,” ông giải thích. Đúng vậy, nó mang tính cách mạng. Nó lập luận rằng ánh
    sáng không chỉ có thể được xem như là sóng, mà còn như là một dòng các hạt li ti được gọi
    là lượng tử. Những hệ quả vốn cuối cùng sẽ nảy sinh từ lý thuyết này – một vũ trụ không
    có tính nhân quả chặt chẽ hay tính tất định – đã ám ảnh ông đến cuối đời.
    “Bài báo thứ hai viết về sự xác định kích thước thật của nguyên tử.” Mặc dù chính sự tồn
    tại của nguyên tử vẫn gây nhiều tranh cãi, nhưng nó lại là thứ đơn giản nhất trong các bài
    báo, đó là lý do ông đã chọn nó là phần an toàn nhất cho nỗ lực mới nhất xin làm luận án
    tiến sỹ. Lúc đó, ông đang trong quá trình làm một cuộc cách mạng cho ngành vật lý,
    nhưng ông liên tiếp vấp phải khó khăn trong nỗ lực tìm được một công việc học thuật
    hoặc thậm chí lấy bằng tiến sỹ, những gì mà ông hy vọng có thể giúp mình thăng tiến từ
    nhân viên kiểm định bậc ba lên nhân viên kiểm định bậc hai tại Cục Cấp bằng Sáng chế.
    Bài báo thứ ba giải thích chuyển động hỗn loạn của các hạt vi mô trong chất lỏng bằng
    cách sử dụng phân tích thống kê cho va chạm ngẫu nhiên. Qua đó đã chứng minh được
    rằng nguyên tử và phân tử thật sự tồn tại.
    “Bài báo thứ tư giờ mới chỉ là một bản phác thảo thô, nó đề cập tới điện động lực học của
    vật chuyển động khi điều chỉnh lý thuyết về không gian và thời gian.” Đấy, điều đó chắc
    chắn còn hơn cả nói huyên thuyên. Thuần túy dựa trên thí nghiệm tưởng tượng – được
    thực hiện trong đầu ông chứ không phải trong phòng thí nghiệm – ông đã quyết định gạt
    bỏ khái niệm về thời gian và không gian tuyệt đối của Newton. Sau này, nó được biết đến
    với cái tên Thuyết Tương đối hẹp.
    Điều ông không nói với bạn mình, vì khi đó ông chưa nhận ra, là ông sẽ viết bài báo thứ
    năm cũng trong năm đó, một bài bổ sung ngắn cho bài báo thứ tư – khẳng định mối liên hệ
    giữa năng lượng và khối lượng. Từ đây, phương trình nổi tiếng nhất trong vật lý: E=mc2
    đã ra đời.
    Khi nhìn lại thế kỷ sẽ được nhớ đến vì sẵn sàng phá bỏ những mối liên hệ (của vật lý học)
    cổ điển và hướng tới một kỷ nguyên luôn tìm cách nuôi dưỡng tính sáng tạo cần thiết cho

    https://thuviensach.vn

    sự đổi mới khoa học, ta sẽ thấy một nhân vật nổi bật như là biểu tượng hàng đầu trong
    thời đại của chúng ta: một người tị nạn, tốt bụng, phải chạy trốn áp bức, mái tóc xù như
    vầng hào quang, đôi mắt sáng long lanh, lòng nhân ái dễ mến và trí tuệ xuất chúng,
    những điều đó làm gương mặt của ông trở thành một biểu tượng và làm tên ông trở thành
    một từ đồng nghĩa với thiên tài. Albert Einstein là một “người thợ khóa” được phú cho trí
    tưởng tượng tuyệt vời, và được dẫn dắt bởi niềm tin vào sự hài hòa trong tạo phẩm của tự
    nhiên. Câu chuyện hấp dẫn về ông, một bằng chứng cho sự kết nối giữa tính sáng tạo và sự
    tự do, phản ánh những thành tựu và những náo động của kỷ nguyên hiện đại.
    Giờ đây, khi những tư liệu lưu trữ của Einstein đã được công khai hoàn toàn, ta có thể
    khám phá khía cạnh riêng tư – tính cách không chịu theo lề thói, bản năng nổi loạn, tính
    tò mò, những niềm đam mê và thái độ bàng quan của ông – đã hòa quyện với khía cạnh
    chính trị và khía cạnh khoa học trong ông như thế nào. Hiểu người đàn ông này giúp ta
    hiểu ngọn nguồn khoa học trong ông và ngược lại. Tính cách, trí tưởng tượng và thiên tài
    sáng tạo, tất cả liên quan với nhau như là những thành phần của một trường thống nhất
    nào đó.
    Mặc dù có tiếng là người lạnh lùng, nhưng thực ra ông là người nồng nhiệt trong nghiên
    cứu khoa học lẫn trong đời tư. Ở đại học, ông yêu say đắm thiếu nữ duy nhất trong lớp vật
    lý của mình, một người Serbia nghiêm túc với mái tóc sẫm màu tên là Mileva Marić. Họ có
    một người con gái lúc chưa kết hôn, sau đó họ cưới nhau và có thêm hai người con trai. Bà
    là người lắng nghe các ý tưởng khoa học của ông và giúp kiểm tra phần toán học trong các
    bài báo. Thế nhưng mối quan hệ của họ cuối cùng đã đổ vỡ. Einstein đưa ra một thỏa
    thuận. Ông nói, một ngày nào đó, mình sẽ được trao giải Nobel; nếu bà chấp nhận ly dị, thì
    ông sẽ chuyển toàn bộ số tiền thưởng đó cho bà. Bà suy nghĩ một tuần rồi đồng ý. Vì các
    thuyếtcủa ông quá đỗi cấp tiến, nên phải sau 17 năm kể từ khi có nhiều ý tưởng kỳ diệu ở
    Cục Cấp bằng Sáng chế, ông mới được trao giải thưởng này. Đến lúc đó bà mới nhận được
    tiền từ ông.
    Cuộc đời và công trình của Einstein phản ánh sự đổ vỡ của những xác tín xã hội và luân lý
    đạo đức tuyệt đối trong không khí của chủ nghĩa hiện đại đầu thế kỷ XX. Sự nổi loạn đầy
    tính sáng tạo lan tỏa khắp nơi: Picasso6, Joyce7, Freud, Stravinsky8, Schoenberg9 và
    nhiều người khác đang phá bỏ những mối liên hệ truyền thống. Tiếp thêm vào bầu không
    khí này là quan niệm về vũ trụ theo đó thời gian,và không gian và các tính chất của các
    hạt dường như dựa trên những thay đổi thất thường của các quan sát.
    Tuy nhiên, Einstein không hẳn là người theo chủ nghĩa tương đối10 mặc dù nhiều người
    cho rằng ông thuộc nhóm này, trong đó có một số người mà thái độ coi thường ông có lẫn
    chủ nghĩa bài Do Thái. Bên dưới tất cả các lý thuyết của ông, bao gồm cả Thuyết Tương
    đối, là cuộc tìm kiếm những cái bất biến, cái chắc chắn và cái tuyệt đối. Einstein cảm thấy
    có một thực tại hài hòa làm nền tảng cho các quy luật của vũ trụ, và mục đích của khoa
    học là khám phá ra nó.
    Ông bắt đầu cuộc tìm kiếm của mình năm 1895 khi 16 tuổi và đã hình dung sẽ thế nào khi
    lướt cùng tia sáng. Năm diệu kỳ của ông đến sau đó mười năm, như trong bức thư trên đã
    mô tả, nó đã đặt nền móng cho hai bước tiến vĩ đại của vật lý thế kỷ XX: Thuyết Tương đối
    và lý thuyết lượng tử.
    Năm 1915, một thập kỷ sau, ông mới có được thành tựu lớn nhất của mình về tự nhiên, đó
    là Thuyết Tương đối rộng, một trong những lý thuyết đẹp đẽ nhất trong toàn bộ nền khoa
    học. Cũng như với Thuyết Tương đối hẹp, tư duy của ông đã phát triển qua các thí nghiệm
    tưởng tượng. Ông đã phỏng đoán một trong các thí nghiệm này khi tưởng tượng mình
    đứng trong một thang máy đóng kín đang tăng tốc trong không gian. Ta không thể phân

    https://thuviensach.vn

    biệt những hiệu ứng mà ta cảm thấy với trải nghiệm khi có trọng lực.
    Ông giả thiết rằng lực hấp dẫn là biểu hiện vênh méo của không gian và thời gian, và ông
    đưa ra các phương trình mô tả bằng cách nào động học của độ cong ấy lại là kết quả của sự
    tác động qua lại giữa vật chất, chuyển động và năng lượng. Ta cũng có thể mô tả nó bằng
    một thí nghiệm tưởng tượng khác. Hãy hình dung sẽ thế nào nếu ta lăn một quả bóng
    bowling lên mặt phẳng hai chiều của một tấm bạt lò xo. Rồi sau đó lăn tiếp vài quả bi-a.
    Những quả bi-a này di chuyển về phía quả bóng bowling không phải là vì quả bóng
    bowling tác động một lực hút bí ẩn nào đó, mà là vì nó đã làm trũng tấm vải bạt. Giờ hãy
    tưởng tượng điều này diễn ra trong cấu trúc bốn chiều của không – thời gian. Đúng là
    chẳng dễ gì mà tưởng tượng được, nhưng chính vì thế mà chỉ có ông là Einstein, còn
    chúng ta thì không.
    Một thập kỷ sau đó, năm 1925, là cột mốc đánh dấu nửa sự nghiệp của Einstein và cũng là
    một bước ngoặt của ông. Cuộc cách mạng lượng tử mà ông góp phần tạo nên đang biến
    thành một môn cơ học mới dựa trên xác suất và tính bất định. Ông có những đóng góp vĩ
    đại cuối cùng cho cơ học lượng tử trong năm đó, nhưng đồng thời ông cũng bắt đầu phản
    đối nó. Ông dành ba thập kỷ sau đó, cuối cùng viết nguệch ngoạc một số phương trình khi
    nằm trên giường bệnh vào năm 1955, kiên quyết phê phán những gì ông cho là tính
    không đầy đủ của cơ học lượng tử, đồng thời cố gắng gộp nó vào một lý thuyết trường
    thống nhất.
    Suốt 30 năm là một “nhà cách mạng” cũng như 30 năm tiếp theo là người chống đối, trước
    sau như một, Einstein vẫn tự nguyện là một người cô độc vui tươi ...
     
    Gửi ý kiến

    Sách không dạy ta sống thay ai, nhưng âm thầm chỉ cho ta cách sống sâu hơn, chậm hơn và có trách nhiệm hơn với chính mình.

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC LÊ VĂN TÁM, T. THANH HOÁ !