TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

Tài nguyên dạy học

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU WEBSITE HỌC LIỆU

    Kính gửi quý thầy cô giáo và các em học sinh thân mến! Website Thư viện Trường Tiểu học Lê Văn Tám – Thanh Hóa là không gian học tập số được xây dựng nhằm phục vụ hiệu quả công tác giảng dạy, học tập và phát triển văn hóa đọc trong nhà trường. Website cung cấp hệ thống tài nguyên phong phú như: giới thiệu sách hay, sách theo chủ đề, tài liệu tham khảo, học liệu điện tử, tin tức hoạt động thư viện và các nội dung hướng dẫn kỹ năng đọc – kỹ năng tìm kiếm thông tin phù hợp với lứa tuổi học sinh tiểu học. Giao diện thân thiện, dễ sử dụng giúp giáo viên thuận lợi khai thác tài liệu phục vụ bài giảng, đồng thời hỗ trợ học sinh hình thành thói quen đọc sách, tự học và khám phá tri thức một cách chủ động. Thư viện trân trọng kính mời quý thầy cô và các em học sinh thường xuyên truy cập website để cùng lan tỏa tình yêu sách, nuôi dưỡng tri thức và xây dựng môi trường học tập tích cực, nhân văn trong nhà trường.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z7307430848503_8e28d761b4e6e370e63fe337163221cf.jpg Z7307430840636_6c0f784596e92ebaf8c32f4dbfdb8619.jpg Z7307430821932_7ebe16cae01ea732e09436a31486fec6.jpg Z7307430828887_3d95fe1b57f808ccb81620bd079b99fd.jpg Z7307544372659_617cbe2b817d509dcc7348fb7a685de4.jpg Z7307544391587_4a4ebc51cd199f145d8b2409764c0c76.jpg Z7307544375474_1d0658d1435c6688f41f22eeb11322da.jpg Z7307544372902_f350534a53f1c4540642de4c780cac2b.jpg Z7307544340399_eb68ff964d283fd9d13ca3ee1ef7a433.jpg Z7307544335910_81eb86db101f851641919d036101c05b.jpg Z7307544325392_e8a27a5c9c2dbe979af6df8da3074416.jpg Z7307544323346_5ee7dd6a5a6e3088b8cbb7e5c0396ffb.jpg Z7307430898228_b5b22da7c6d22ebca198ee2dd9c0bf12.jpg Z7307430864241_9a20595ea1cf0b5e5e986f91e96d0429.jpg Z7307430886828_75df77cd44369a885c4993cfa9aed936.jpg Z7307430877743_6e2fa3474c46957d62577d7c1592fcae.jpg Z7307430870741_8ca6be50325ae46467cfa5dde763b9d4.jpg Z7307430859513_52b27e98fd7b13884f232d8b4809514f.jpg

    💕💕 Hãy đọc mỗi ngày, không phải để trở nên khác người, mà để trở thành phiên bản hiểu biết và nhân văn hơn của chính mình.💕💕

    Sách nói Chuyện của Bắp Ăn Mơ Và Xóm Đồi Rơm - Cao Khải An

    Dam Mo Uoc De Truong Thanh

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 15h:04' 11-03-2024
    Dung lượng: 625.6 KB
    Số lượt tải: 15
    Số lượt thích: 0 người
    Chia sẻ ebook : Webhoctap.net

    DÁM MƠ ƯỚC ĐỂ TRƯỞNG
    THÀNH
    25 CÂU CHUYỆN ĐỜI PHI
    THƯỜNG
    SANDRA MCLEOD HUMPHREY
    In lần thứ 2
    Đội ngũ thực hiện:
    Uông Xuân Vy
    Bùi Hoàng Thanh Dung
    VIVA BOOKS
    NHÀ XUẤT BẢN TỔNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    MỤC LỤC

    DÁM MƠ ƯỚC ĐỂ TRƯỞNG THÀNH
    25 CÂU CHUYỆN ĐỜI PHI THƯỜNG
    lời nhắn nhủ
    dành cho người lớn
    lời nhắn nhủ
    dành cho các độc giả trẻ

    ABRAHAM LINCOLN
    THOMAS ALVA EDISON
    NELLIE BLY
    ALBERT EINSTEIN
    HELEN KELLER
    ELEANOR ROOSEVELT
    GEORGIA O'KEEFFE
    JIM THORPE
    NORMAN VINCENT PEALE
    NGÔ KIỆN HÙNG
    JACKIE ROBINSON
    MAYA ANGELOU
    MARTIN LUTHER KING JR
    SANDRA DAY O'CONNOR
    TONI MORRISON
    BILL COSBY
    MARIAN WRIGHT EDELMAN
    WILMA RUDOLPH
    ARTHUR ASHE
    BEN CARSON
    GLORIA ESTEFAN
    ELLEN OCHOA
    MICHAEL JORDAN
    SAMMY SOSA
    HEATHER WHITESTONE
    Lời kết


    “Bạn trẻ nào cũng cần có một người hùng. Trẻ con đứa nào

    cũng cần một người kề cận, dẫn dắt khi phải đối mặt với các
    quyết định khó khăn, giúp chúng biết sắp xếp thứ tự ưu tiên
    trong cuộc sống, dạy cho chúng có trách nhiệm với những gì
    mình nói và làm, và luôn là người ủng hộ chúng cuồng nhiệt
    nhất. Dám Mơ ước Để Trưởng Thành đã làm được điều đó.
    Quyển sách mang đến cho các bạn trẻ những người hùng thật
    sự để họ trân trọng và noi theo.”
    Tiến sĩ Terry Hitchcock,
    Giám đốc điều hành Tổ chức Heroes & Dreams


    “Dám Mơ Ước Để Trưởng Thành khích lệ các bạn trẻ biết đặt
    mục tiêu và nỗ lực thật nhiều để khắc phục những trở ngại
    đang cản bước họ trên con đường đi đến những mục tiêu đó.”
    Daniel R. Hart,
    Cựu thẩm phán hạt Hennepin, Minnesota


    “Mỗi một bạn trẻ, bất kể hoàn cảnh gia đình ra sao, đều cần
    một thứ: đó là hy vọng. Dám Mơ Ước Để Trưởng Thành góp
    nhặt những câu chyện đời có thật của những con người nổi
    tiếng, thành đạt đến từ mọi tầng lớp và trải qua đủ mọi
    nghịch cảnh, buộc họ phải chinh phục núi cao, vực sâu và cả
    dòng đời chảy xiết mà không bỏ quên ước mơ hay khoanh tay
    trước số mệnh… Tác giả đã thành công rực rỡ trong việc
    mang hy vọng đến với cuộc sống của các bạn trẻ, thông qua
    nhửng câu chuyện thành công.”
    Tiến sĩ Donald Draayer,
    Chánh thanh tra xuất sắc cấp Quốc gia của năm 1990,
    Kiêm giáo viên, quản lý và tư vấn giáo dục trong 46
    năm

    “Trong Dám Mơ ước Để Trưởng Thành, bạn sẽ tìm thấy câu
    chuyện đời của rất nhiều con người thuộc mọi tầng lớp xã hội,
    những người trở thành anh hùng bởi họ luôn mang trong
    mình niềm tin mạnh mẽ đồng thời nỗ lực phấn đấu để hiện
    thực hóa ước mơ. Chúng tôi khuyến khích các bạn trẻ hãy
    dành thời gian để đọc quyển sách này để thực hiện được cả
    hai điều ấy. Bằng việc tin vào chính mình và vươn đến những
    gì cao cả tốt đẹp, bạn không chỉ đạt được mục tiêu đề ra, mà
    còn trở thành mẫu người mà mình khao khát - một cá nhân
    xứng đáng được gia đình, bè bạn và đồng sự tôn vinh.”
    _Sara 0'Meara,
    Chủ tịch Hội đổng quản trị kiêm CEO và Yvonne
    Fedderson,
    Đại diện tổ chức Childhelp USA


    “Dám Mơ ước Để Trưởng Thành là quyển sách dành cho thế
    hệ trẻ mà tôi dám mơ ước về họ. Thay vì toàn đề cập đến thể
    thao, giải trí và lối sống trọng tiền tài, danh vọng như những
    gì giới truyền thông đang ngày đêm nhồi nhét, tác phẩm này
    viết về những lựa chọn trong cuộc sống và quá trình nỗ lực
    tìm kiếm thành công của những con người nổi tiếng vốn phải
    đương đầu với vô vàn khó khăn… Tôi hy vọng quyển sách này
    sẽ trở nên phổ biến trong các trường cấp hai.”
    _Benjamin s. Carson Sr.,
    Bác sĩ chuyên khoa kiêm Trưởng khoa Giải phẫu thần
    kinh nhi,
    Bệnh viện Johns Hopkins


    Người hùng là những con người bình thường làm nên những
    điều phi thường trong cuộc sống, và quyển sách này tôn vinh
    tất cả những vị anh hùng của chúng ta - từ quá khứ đến hiện
    tại và cả tưong lai.
    Mối nguy lớn nhất đối với đa số chúng ta không phải là đặt
    mục tiêu quá cao, để rồi thất bại, mà chính việc ta đặt mục
    tiêu quá dễ dàng, rồi đạt dược nó.
    Michelangelo
    (1475 - 1564)




    lời nhắn nhủ
    dành cho người lớn
    ___________________________________________
    Có quá nhiều bạn trẻ thời nay thiếu những người hùng
    để noi theo, không biết đặt mục tiêu và sống không định
    hướng.
    Quyển sách này viết ra nhằm đánh thức những ước mơ
    lãng quên và khơi dậy những người hùng trong lòng các bạn
    trẻ. Người hùng ở đây không phải là những siêu nhân không
    bao giờ gặp rắc rối, mà chính là những con người bình thường
    mang trong mình một ước mơ và quyết tâm theo đuổi ước mơ
    ấy đến cùng, nỗ lực thật nhiều để vượt qua mọi trở ngại và
    cuối cùng đạt được ước mơ ấy.
    Quyển sách này dành tặng cho các bạn trẻ trên khắp thế giới
    nhằm khuyến khích họ Dám Mơ Ước, theo đuổi nó đến cùng
    và đừng bao giờ bỏ cuộc.




    lời nhắn nhủ
    dành cho các độc giả trẻ
    _________________________________________________
    Khi bạn đọc phần tóm tắt tiểu sử của các nhân vật sau
    đây, bạn sẽ nhận ra một điều: họ không phải là những con
    người xuất chúng toàn diện, nhưng rõ ràng mỗi người đều có
    những tài năng và thế mạnh riêng hết sức đặc biệt. Và một
    điều nữa là giữa các tiểu sử ấy có vài điểm tương đồng —
    những điểm chung mà bạn sẽ thấy lặp đi lặp lại trong từng
    câu chuyện.
    Họ đều dũng cảm như nhau. Một số mạnh mẽ về thể
    chất, số khác về đạo đức hoặc mang một tinh thần thép,
    nhưng tất thảy đều sẵn sàng đón nhận rủi ro và can đảm bảo
    vệ chính kiến của mình, dù đôi khi điều đó đồng nghĩa với
    việc phải một mình chiến đấu trên mặt trận cuộc sống.
    Tất cả họ đều kiên trì theo đuổi ước mơ. Họ rất bền chí,
    kiên cường, cả cương trực nữa, để vượt qua mọi trắc trở
    những phút nản lòng và không bao giờ từ bỏ. Họ là những
    vận động viên chạy đua đường trường bền sức chứ không
    phải những tay đua chạy nước rút, và họ bám trụ đường đua
    đến cùng.
    Ai cũng có những trở ngại phải vượt qua. Một số gặp khó
    khăn về thể chất (như bị tật nguyền, sức khỏe yếu hoặc vẻ
    ngoài không mấy ưa nhìn), một số gặp khó khăn về tâm lý
    (vô cùng rụt rè, nhút nhát, hoặc luôn cảm thấy tự ti), số khác
    gặp trở ngại về mặt tài chính (như gánh nặng trách nhiệm, sự
    kỳ vọng đi kèm với cuộc sống giàu sang, hoặc là cực kỳ
    nghèo khó), hoặc những trường hợp gặp khó khăn trong đời
    sống xã hội (bị kỳ thị chủng tộc hoặc không được học hành).

    Họ cố gắng vượt lên hoàn cảnh bằng cách làm việc chăm chỉ,
    tin vào bản thân, và một số còn biến nhược điểm thành ưu
    điểm bằng cách thay đổi thái độ sống.
    Và cuối cùng, tất cả đều mang trong mình những khát
    khao lớn. Cảm giác hài lòng mãn nguyện không xuất phát từ
    thành công cá nhân hay từ cuộc sống đầy đủ, mà chính từ-sứ
    mệnh muốn cải thiện cuộc sống cho những người chung
    quanh họ.


    ABRAHAM LINCOLN
    “Đồ chây lười”
    Abraham Lincoln sinh ra trong một căn nhà gỗ nhỏ tại
    Ken- tucky, Hoa Kỳ, một trong những bang dành cho nô lệ,
    vào năm 1809 và được đặt theo tên của ông nội.
    Năm Abraham lên 7 tuổi, gia đình ông chuyển đến
    Indiana, vùng đất của sự tự do và chế độ nô lệ không được
    chấp nhận ở nơi này.
    Tại đây, ông và chị gái Sally hàng ngày phải lội bộ hơn
    14 cây số đường rừng để đến lớp; con đường có nhiều động
    vật hoang dã như gấu, hươu, nai, gấu trúc Bắc Mỹ và cả mèo
    rừng sinh sống.
    Cha ông cảm thấy con mình ngày ngày lặn lội hơn 14
    cây số đến trường chỉ để ngồi cùng mấy đứa trẻ khác và học
    cả ngày thật phí thời gian, nhưng mẹ ông, Nancy, lại khuyến
    khích việc học của con. Bà dặn ông phải cố gắng học càng
    nhiều càng tốt.
    Năm Abraham được 9 tuổi, mẹ ông qua đời. Cả gia đình
    ông chìm trong không khí ảm đạm thê lương, cho đến khi cha
    ông tái hôn với một người phụ nữ khác một năm sau đó. Ông
    thỉnh thoảng nhắc đến mẹ kế Sarah như một người bạn tốt
    nhất mà ông từng có với tên gọi trìu mến “người mẹ thiên
    thần”.
    Ông thường hỏi cha nhiều câu khiến người nổi đóa, và
    rất nhiều đêm ông thức trắng, nằm vắt tay lên trán nghĩ về
    những từ phức tạp đối với một đứa trẻ như “độc lập” và “định
    mệnh”.
    Lớn thêm một chút, vẻ ngoài của ông không được ưa
    nhìn cho lắm, thậm chí một số người còn thẳng thừng chê

    ông xấu xí, thô kệch. Trong mắt mọi người, ông cao lênh
    khênh, kỳ khôi, dị hợm và “chẳng khác gì bộ xương di động”.
    Ông đi đứng chậm chạp, khác người, hai vai thõng xuống
    và với chiều cao quá khổ, mỗi khi bước qua cửa, ông đều phải
    cúi đầu thấp xuống.
    Khác hẳn bạn bè đồng trang lứa, ông chẳng ham chơi
    bài, uống rượu hay vác súng đi săn. Năm 11 tuổi, ông có bắn
    chết một con gà gô chạy rông trên đồng cỏ, và từ đó về sau,
    ông không tham gia săn bắn gì nữa.
    Bạn bè và một số họ hàng cho rằng ông “thuộc hàng lập
    dị” bởi cả ngày ông chỉ biết vùi đầu đọc sách, thậm chí từng
    đi bộ hơn 30 cây số chỉ để mượn một quyển sách mà ông
    muốn đọc.
    Mẹ kế Sarah lúc nào cũng khuyến khích niềm đam mê
    đọc sách và tinh thần hiếu học của ông, trong khi cha ông
    cho rằng việc mê chữ nghĩa sách,vở là biểu hiện của kẻ lười
    biếng.
    Dù cha ông suốt ngày càm ràm chuyện đọc sách là “phí
    phạm thời giờ”, Abraham vẫn yêu sách hơn bất kỳ thứ gì khác
    trên đời. Ông đọc tất cả những quyển sách nào ông tìm được
    trong vòng bán kính 80 cây số quanh nhà.
    Ông hay chia sẻ rằng mình tiếp thu kiến thức chậm,
    nhưng bộ não của ông như một miếng thép, “rất khó khắc
    chữ lên nó, nhưng một khi đã khắc thành công, chữ nghĩa
    chẳng thể nào bay mất”.
    Người hàng xóm thuê ông làm việc than phiền, “thằng
    này cả ngày đọc sách và suy tư” và người này xem ông là “đồ
    lười chảy thây”.
    Chưa bao giờ ông hòa hợp được với cha mình, nhưng ông

    lại dành tình thương yêu đặc biệt cho mẹ kế, bởi bà hiểu ông
    ham học đến nhường nào và luôn động viên ông đọc càng
    nhiều càng tốt.
    Thật ra, ông chẳng được đến lớp nhiều (tổng cộng chưa
    đầy một năm đi học), nhưng ngọn lửa đam mê học hỏi trong
    ông thì không thể nào dập tắt được, ông luôn nói rằng những
    gì ông muốn biết đều nằm trong sách, và người bạn tốt nhất
    của ông là “người trao cho tôi quyển sách tôi chưa được đọc
    bao giờ”.
    Dù ông từng là nhà vô địch chạy đua, nhảy cao và đấu
    vật ở rất nhiều hạt, nhưng tình yêu to lớn nhất đời ông vẫn
    dành cho sách và việc học.
    Trưởng thành:
    Năm 19 tuổi, 'Abraham Lincoln rời nhà đến Illinois để
    phụ việc trên một chiếc xà lan chở hàng xuôi theo dòng
    Mississippi đến New Orleans. Tại đây, ông chứng kiến một
    cuộc đấu giá nô lệ.
    Cảnh những người da đen ở miền Nam bị đối xử không
    khác gì đồ vật đã ám ảnh ông mãi về sau. ông thề sẽ đấu
    tranh chống lại chế độ nô lệ bằng mọi giá.
    Năm 22 tuổi, ông trở về Illinois làm chân bán hàng cho
    một cửa tiệm, nhưng không may tiệm thua lỗ phải đóng cửa.
    Thế là ông thử mở cửa hàng riêng nhưng cũng thất bại nốt.
    Phải mất mấy năm trời ông mới trả hết nợ nần từ thương vụ
    này.
    Ngoài kinh nghiệm phụ việc trên tàu và trông cửa hàng,
    ông còn làm thợ chặt gỗ, giám đốc bưu điện, giám định viên,
    đội trưởng đội dân quân và tự học thêm ngành luật.
    Đến năm 23 tuổi, ông tranh cử vào một vị trí thuộc cơ

    quan lập pháp bang Illinois nhưng thất bại. Hai năm sau, ông
    tái tranh cử và lần này, ông được ngồi vào chiếc ghế đó từ
    năm 1834 đến năm 1841.
    Người đời thường nói, trong vai trò luật sư, ông tuy nổi
    tiếng nhưng không có tài, còn trong vai trò chính trị gia, ông
    có tài nhưng không phải lúc nào cũng nổi tiếng.
    Ông được bầu làm thành viên Hạ nghị viện Hoa Kỳ năm
    1846 trong một nhiệm kỳ. Năm 1860, ông trở thành tổng
    thống thứ 16 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.
    Sau lần bầu cử này, 7 bang phía Nam tách ra khỏi liên
    minh và thành lập nhà nước tự trị. Họ tự gọi mình là Liẻn
    minh miền Nam Hoa Kỳ và bầu Jefferson Davis lên làm tổng
    thống. Nước Mỹ bị chia hai.
    Khi phe ly khai nổ phát súng khai chiến đầu tiên tại đồn
    Sumter vào ngày 12 tháng 4 năm 1861, cuộc nội chiến chính
    thức bắt đầu. Khi ấy có tổng cộng 11 bang gia nhập Liên
    minh miền Nam - tất cả đều là những bang muốn giữ lại chế
    độ nô lệ.
    Tình trạng nô lệ là nguyên nhân gây ra cuộc nội chiến,
    và Abraham biết rõ đất nước này không bao giờ có hòa bình
    nếu cứ duy trì một nửa tự do, một nửa nô lệ. Thế nên, năm
    1863, ông ký bản tuyên ngôn giải phóng nô lệ, trong đó
    tuyên bố tất cả nô lệ thuộc các bang miền Nam nổi dậy đều
    được trả tự do. Đối với ông, đó là hành động quan trọng nhất
    trong suốt nhiệm kỳ làm tổng thống của mình.
    Ông còn là một nhà văn và nhà hùng biện tài năng. Bài
    diễn văn của ông tại thị trấn Gettysburg vào năm 1863 vẫn
    được xem là một trong những bài phát biểu vĩ đại nhất trong
    lịch sử.
    Nếu không có sự sáng suốt và tài lãnh đạo cứng rắn của

    ông trong suốt thời kỳ nội chiến, hẳn nước Mỹ vẫn còn chịu
    cảnh chia cắt đến ngày hôm nay. Ông là hiện thân của tinh
    thần tự do, dân chủ bất diệt và ông đã chứng minh cho cả thế
    giới thấy “chính phủ của dân, do dân và vì dân” sẽ vĩnh hằng.
    Ông tái đắc cử tổng thống Hoa Kỳ vào năm 1864 nhưng
    không lâu sau, ông bị John Wilkes Booth, một nam diễn viên
    bị loạn trí, bắn chết vào ngày 14 tháng 4 năm 1865 - chỉ 5
    ngày sau khi Đại tướng Lee tuyên bố đầu hàng tại thành phố
    Appomattox, bang Virginia, kết thúc cuộc nội chiến.
    Ngày nay, Abraham vẫn được xem là một trong những vị
    tổng thống vĩ đại nhất. Dù ông đã qua đời hơn một thế kỷ,
    nhưng tài lãnh đạo và lòng quả cảm của ông vẫn mãi là tấm
    gương của biết bao nhiêu người trên thế giới.
    “Một căn nhà bị chia làm đôi không thể nào đứng
    vững.”
    AbrahamLincoln (1809 1865)


    THOMAS ALVA EDISON
    “Thứ đầu óc không bình thường”
    Tuổi thơ:
    Thomas Alva Edison sinh năm 1847 tại thành phố Milan,
    bang Ohio, Hoa Kỳ. Ngay từ khi còn là một cậu bé, tính tò mò
    đã khiến ông vướng phải không biết bao nhiêu là rắc rối.
    Lúc nào ông cũng hỏi “Tại sao?” Mới lên 3 tuổi, ông bị
    ngã vào chiếc máy hút lúa và suýt chết ngạt trong đó vì ông
    muốn biết cỗ máy hoạt động ra sao. Năm ông 4 tuổi, cha ông
    phát hiện con trai mình ngồi chồm hổm ấp mấy cái trứng vịt
    trong chuồng gia súc lạnh ngắt, vì ông muốn xem liệu mình
    có thay vịt mẹ ấp cho trứng nở được không.
    Ông đến lớp chẳng được bao nhiêu vì các giáo viên cho
    rằng việc ông hỏi suốt ngày là do đầu óc ông ngu dốt. Vậy
    nên, năm ông lên bảy tuổi, mẹ ông vốn cũng là một giáo viên
    quyết định, cho con nghỉ học ở trường và dạy con học tại nhà.
    Mấy người hàng xóm nghĩ đứa bé trai kỳ dị với thân hình
    nhỏ thó, cái đầu to quá mức bình thường cùng những câu hỏi
    không bao giờ dứt ấy hẳn là đồ “tưng tửng”, thậm chí một
    bác sĩ trong vùng còn e ngại rằng cậu bé “có vấn đề về trí
    não” cũng bởi cái đầu to quá khổ kia.
    Ông mê đọc sách vô cùng. Đặc biệt, sách viết về hóa học
    là loại sách khoái khẩu nhất của ông, nhưng ông đọc thì ít,
    thực hành thì nhiều, ông thử rất nhiều thí nghiệm được mô tả
    trong sách để chứng minh với bản thân rằng những gì sách
    viết là thật.
    Khoảng 10 tuổi, ông tự lập ra phòng thí nghiệm riêng
    trong tầng hầm dưới nhà, và trong một lần thí nghiệm, ông

    làm lửa cháy đùng đùng và suýt thổi bay ông ra khỏi căn
    hầm.
    Đến năm 12 tuổi, để kiếm tiền mua hóa chất làm thí
    nghiệm, ông mang kẹo và báo đi bán ở trạm xe lửa gần nhà,
    và tranh thủ thời gian rảnh ở nhà ga để làm thí nghiệm.
    Ông bị buộc phải tạm chấm dứt mấy trò thí nghiệm của
    mình khi một mảnh phốt-pho bắt lửa trong căn phòng thí
    nghiệm tạm bợ ông bày ra ở một toa xe chở hành lý. Viên
    quản lý tống cổ ông cùng mấy thứ vật dụng thí nghiệm khi xe
    lửa dừng ở trạm kế tiếp.
    Hầu như lúc nào ông cũng thí nghiệm và thí nghiệm. Có
    lần, ông còn cho đứa bạn uống 3 liều bột thuốc tẩy nhẹ với
    hy vọng bụng nó sẽ giải phóng ra đủ khí để bay lên. Kết quả
    là đứa bạn đau bụng quằn quại, còn ông thì ăn một trận đòn
    nhớ đời.
    Năm 16 tuổi, ông có cơ hội được học làm nhân viên đánh
    điện tín, sau đó ông quay sang mê ngành điện không kém gì
    ngành hóa trước đây.
    Và bởi trong đầu ông lúc nào cũng đầy ý tưởng thay vì
    chú tâm vào công việc phải làm, ông trở thành một nhản viên
    điện tín cực kỳ chểnh mảng.
    Chỉ sau một năm làm việc, ông bị sa thải vì cả ngày chỉ
    có đọc sách, thí nghiệm rồi ngủ gục.
    Trong giới nhân viên điện tín, ông nổi tiếng là “đồ gàn
    dở” vì dành quá nhiều thời gian cho chuyện đọc và thí
    nghiệm.
    Các đồng nghiệp suốt ngày châm chọc, cười cợt vẻ ngoài
    xòang xĩnh, đầu tóc rối bù của ông. sếp ông thì mất hết kiên
    nhẫn với một nhân viên như ông, “một kẻ thiếu thực tế, đầu

    óc trên mây và chắc cả đời chẳng làm nên trò, trống gì”.
    Trưởng thành:
    Năm 21 tuổi, Edison không thí nghiệm nữa mà chuyển
    sang phát minh sản phẩm toàn thời gian. Có quá nhiều sáng
    kiến mà ông biết mình phải nỗ lực thật nhiều để làm ra mọi
    thứ mình muốn.
    Khi thị trường cho những phát minh của ông phát triển,
    ông nhận ra mình cần nhiều trang thiết bị cỡ lớn. Thế là năm
    1876, ông chuyển đến Menlo Park, bang New Jersey, tại đây,
    ông lập nên trung tâm nghiên cứu của riêng mình. Ông mời
    tất cả những thợ thủ công và nhà khoa học giỏi nhất ông tìm
    được, đưa họ vào làm nơi ông gọi là “nhà máy của những ý
    tưởng”.
    Một năm sau, phát minh vĩ đại đầu tiên được cả thế giới
    biết đến - chiếc máy hát đĩa - đã ra đời. Với phát minh này,
    thoắt cái ông trở thành người nổi tiếng, nhưng tất cả chỉ mới
    bắt đầu.
    Năm 1879, sau nhiều tháng miệt mài, ông cho ra đời
    một phát minh vĩ đại khác - bóng đèn điện - sản phẩm làm
    thay đổi cách sống của nhân loại mãi mãi.
    Cả đời ông là những câu hỏi “tại sao” không bao giờ dứt.
    Và việc tiếp theo ông làm là tìm hiểu xem còn cách nào khác
    hơn, hay hơn để làm mọi thứ hay không.
    Sự kiên nhẫn trong ông là vô hạn, và hiếm khi nào ông
    nản lòng, ông tiếp cận vấn đề với thái độ tích cực và không
    bao giờ bỏ cuộc cho đến khi nào giải quyết được mới thôi. Mỗi
    ngày ông làm việc 18 tiếng đồng hồ là chuyện bình thường,
    và trong cả cuộc đời mình, ông sở hữu hơn 1.000 bằng sáng
    chế khác nhau cho các phát minh của mình.

    Chính nhờ tính tò mò bẩm sinh và nỗ lực làm việc không
    mệt mỏi của ông mà thế giới chúng ta đang sống ngày nay
    tốt đẹp hơn trước rất nhiều.
    Chưa từng có ai mang các khám phá khoa học vào đời
    sống nhiều như ông với máy hát đĩa (phát minh theo ông là vĩ
    đại nhất), bóng đèn điện, máy đánh chữ, máy ghi âm, máy
    phát điện, máy quay phim và nhiều sản phẩm khác. Ông còn
    cải tiến một số phát minh đã có từ trước như điện thoại và
    máy điện tín.
    Chưa bao giờ ông để cho những “thất bại” (theo cách
    người đời gọi) làm ông nhụt chí; thay vào đó, ông xem chúng
    như những nấc thang cần thiết trong cuộc đời làm khoa học
    của mình.
    Ông tự dàn dựng và thực hiện bộ phim câm đầu tay,
    ngoài ra ông tạo ra “hình ảnh biết nói” bằng cách kết hợp 2
    phát minh của mình: máy hát đĩa và máy quay phim. Với 2
    phát minh này, có lẽ ông là nguời đóng góp to lớn nhất vào
    ngành công nghiệp giải trí của thế giới hơn bất kỳ ai.
    Dù sau này đã trở thành một triệu phú, ông vẫn khiêm
    tốn và luôn cảm thấy hạnh phúc nhất vào những lúc được làm
    việc trong phòng thí nghiệm để phát minh ra sản phẩm mới.
    Ông đuợc Quốc hội Hoa Kỳ truy tặng Huy chuơng Danh
    dự vào năm 1928, và vào ngày ông mất ở tuổi 84, Tổng
    thống Herbert Hoover đã yêu cầu tất cả công dân Mỹ tắt bóng
    đèn điện trong vòng một giờ để tưởng nhớ tài năng sáng tạo
    khôn cùng của Thomas Edison.
    Ông là một trong những nhà sáng chế vĩ đại nhất mà thế
    giới từng biết. Ông đã gặt hái được nhiều hơn là cải thiện
    cuộc sống của một người bình thường. Bạn thấy đấy, chính
    những phát minh vĩ đại của ông đã giúp cho cuộc sống hàng

    ngày của chúng ta dễ chịu và thoải mái hơn rất nhiều - điều
    mà không phải nhà khoa học nào trong lịch sử cũng làm
    được.
    “Thiên tài chỉ có 1% bẩm sinh, còn lại 99% là do cần
    cù.”
    Thomas Alva Edison (1847 1931


    NELLIE BLY
    Người tự nhận mình là “cô gái mồ côi đơn độc”
    Cha bà, ông Michael Cochran, nổi tiếng là người cương
    trực và tham vọng, tự mình vươn lên trong cuộc sống - từ
    một thợ rèn bình thường, ông đã trở thành một địa chủ giàu
    có thịnh vượng và một thẩm phán có tầm ảnh hưởng.
    Rõ ràng, Eliàabeth thừa hưởng tố chất cương trực và ý
    chí mạnh mẽ từ cha, cùng vẻ điệu đàng từ mẹ.
    Tuổi thơ:
    Elizabeth Jane Cochran sinh năm 1864 tại Cochran's
    Mills, bang Pennsylvania, thành phố được đặt theo tên của
    ngưòi công dân lỗi lạc nhất vùng, cha bà.
    Elizabeth được làm phép rửa tội trong chiếc váy màu
    hồng, và trong khi các bé gái khác mặc những bộ váy nâu
    sồng, xám xịt chán ngắt, thì mẹ của bà trau chuốt cho con
    gái bộ váy hồng sặc sỡ.
    Hồng luôn là màu yêu thích của Elizabeth; từ bé bà đã
    mặc màu hồng thường xuyên đến nỗi “Hồng” trở thành biệt
    danh của bà.
    Cha bà luôn khuyến khích bà đọc sách, thế nên từ những
    năm tháng đầu đời bà đã đặc biệt yêu thích văn chương và
    sáng tác truyện.
    Nhưng khi Elizabeth lên 6 tuổi, cuộc đời bà xảy ra biến
    động dữ dội. Cha bà qua đời sau một cơn bạo bệnh ập đến
    bất ngờ khiến toàn thân ông bị liệt.
    Dù từng là một công dân tiêu biểu có nhiều đóng góp to
    lớn cho cộng đồng, nhưng khi qua đời, cha bà chết đi mà
    không kịp để lại di chúc. Không sở hữu giấy tờ hợp pháp

    trong tay, mẹ Elizabeth bị buộc phải mang toàn bộ tài sản của
    chồng ra đấu giá và toàn bộ gia đình bà bị bắt chuyển sang
    sống trong một căn hộ chật chội hơn nhiều.
    Với hy vọng 5 đứa con của mình có một cuộc sống sung
    túc, mẹ Elizabeth tái hôn. Nhưng bất hạnh thay, người cha
    dượng có thói hành hạ ngược đãi con riêng của vợ, và vào
    năm 14 tuổi, Elizabeth phải ra tòa làm chứng để giúp mẹ
    được chấp thuận ly hôn.
    Sau vụ việc đó, Elizabeth cùng gia đình chuyển đến sống
    tại một thành phố xô bồ, tăm tối vùng Pittsburgh, với hy vọng
    sẽ dễ kiếm việc làm hơn ở nơi đây.
    Trải qua những năm tháng chứng kiến cuộc hôn nhân
    thứ hai đầy khốn khổ của mẹ, Elizabeth nhận ra một điều
    rằng bà không muốn bị lệ thuộc vào bất kỳ ai, trừ chính bản
    thân mình, thế nên trong khi các bạn gái đồng trang lứa chọn
    con đường hôn nhân, bà quyết định ưu tiên sự nghiệp.
    Có điều, để kiếm được việc làm không dễ. Các anh em
    trai của bà nhanh chóng kiếm được những chân làm việc
    nhàn hạ chốn văn phòng, còn công việc dành cho cánh phụ
    nữ thời bấy giờ toàn là trong những nhà máy, xưởng chế biến
    bóc lột sức lao động công nhân tàn tệ.
    Suốt 4 năm ròng rã, bà nằm trong số những phụ nữ
    không thể tìm nổi cho mình một công việc ổn định với mức
    tiền công đàng hoàng tử tế.
    Thế rồi, vào tháng Giêng năm 1885, bà đọc được một:
    bài viết trên tờ Pittsburgh Dispatch có nhan đề “Những Thế
    Mạnh Của Nữ Giới”. Tác giả của bài báo chính là Erasmus
    Wilson, nhà báo tiếng tăm nhất vùng Pittsburgh. Ông cho
    rằng bất kỳ phụ nữ nào có việc làm đều là “quái nhân” bởi
    phụ nữ sinh ra là để ở nhà chăm lo gia đình và nuôi dạy con

    cái.
    Elizabeth vô cùng tức giận đến nỗi bà gửi một bức thư
    chống đối nặc danh đến George Madden, chủ bút tờ Dispatch,
    trong đó miêu tả chi tiết hoàn cảnh khó khăn của rất nhiều
    phụ nữ trẻ đang phải làm việc quần quật để sống sót - ở xứ
    sở Pittsburgh cay nghiệt.
    Bài báo đó đã thay đổi cuộc đời bà mãi mãi!
    Trưởng thành:
    George Madden cảm thấy cực kỳ ấn tượng với bức thư ký
    tên “Cô gái mồ côi đơn độc” này. Ông cho đăng vài dòng trên
    số Chủ Nhật kêu gọi tác giả tiết lộ danh tính.
    Ngày hôm sau, Elizabeth nhận công việc đầu tiên của
    mình: trở thành một nhà báo. Bản chất công việc đòi hỏi bà
    phải chọn bút danh, bởi trong những ngày ấy, người ta không
    chấp nhận chuyện phụ nữ viết báo và công khai tên tuổi
    trước công chúng.
    Sau nhiều gợi ý từ những nhân viên phòng biên tập, ông
    Madden quyết định chọn tên Nellie Bly cho bà, cũng là tên
    nhân vật trong bài hát “Nellie Bly” do Stephen Foster sáng
    tác 35 năm về trước.
    Nellie tập trung viết về những bất công trong xã hội và
    bà cũng là người khơi mào cho công tác điều tra báo chí. Bà
    đặc biệt xuất sắc trong nhiệm vụ nhập vai để tác nghiệp, giả
    làm một nữ công nhân nghèo khổ nhằm phơi bày mức độ tàn
    nhẫn và điều kiện làm việc đáng sợ trong các nhà xưởng, nơi
    biết bao phụ nữ đang cặm cụi làm việc ngày đêm.
    Khi các chủ nhà máy dọa sẽ rút quảng cáo khỏi tờ
    Dispatch sau những bài viết của bà, Nellie thuyết phục vị chủ
    bút chuyển bà sang công tác ở Mexico. Tại Mexico, bà tiếp tục

    viết bài về tình trạng nghèo đói và tham nhũng chính trị, dẫn
    đến hệ lụy là bà bị chính phủ nước này trục xuất.
    Thay vì trở về Pittsburgh, bà đến thành phố New York với
    hy vọng sẽ tìm được việc ở những tòa soạn lớn. Nhưng 4
    tháng trôi qua, bà vẫn thất nghiệp và không một xu dính túi.
    Cuối cùng, bà cũng liên hệ được với văn phòng của tờ báo lớn
    nhất New York lúc bấy giờ, tờ New York World. Sự xuất hiện
    của bà thật đúng nơi đúng lúc, bởi khi ấy tờ báo đang tìm
    một phóng viên điều tra đủ thông minh và can đảm để thâm
    nhập vào nhà thương điên dành cho nữ giới Women's Lunatic
    Asylum tại Blackwell's Island nhằm làm sáng tỏ tin đồn nơi
    này ngược đãi và quấy rối bệnh nhân.
    Sau này bà mô tả nhà thương điên này là “bẫy người” và
    chính chuyến công tác liều lĩnh, táo bạo ấy đã không chỉ đưa
    bà lên hàng phóng viên tên tuổi lẫy lừng trong làng báo New
    York, mà còn kéo theo công cuộc cải thiện điều kiện chăm sóc
    bệnh nhân tâm thần tại New York.
    Mùa thu năm 1888, khi bà biết tờ World có ý định gửi
    một phóng viên nam đi vòng quanh thế giới trong vòng 80
    ngày, bà dọa sẽ thực hiện điều tương tự trong khoảng thời
    gian ngắn hơn cho một tờ báo khác nếu World không chọn bà
    thay cho người đàn ông kia.
    Chuyến đi đã biến bà thành nhân vật nổi tiếng khi tờ World
    cập nhật tình hình chuyến đi của bà mỗi ngày trên mặt báo.
    Khi cuộc hành trình kết thúc với số ngày kỷ lục: 72 ngày, bà
    trở về trong sự đón chào nồng nhiệt của đám đông.
    Trong cả cuộc đời làm báo của mình, bà luôn nỗ lực
    chống lại cái xấu. Từ chỗ vào vai bệnh nhân tâm thần để
    thâm nhập vào nhà thương điên nhằm phơi bày điều kiện
    nuôi bệnh vô nhân đạo ở nơi này, đến việc trở thành một

    trong số phóng viên chiến trường đầu tiên tường thuật từ tiền
    tuyến của Thế chiến thứ nhất, bà tranh đấu để vạch mặt bất
    công và tham nhũng, góp phần tái lập vai trò của phụ nữ vốn
    bị bó buộc suốt hàng thế kỷ tại Mỹ.
    Khi bà qua đời năm 1922 sau trận bệnh viêm phổi, tất cả
    những tờ báo tại New York đồng loạt đăng cáo phó về cuộc
    đời bà một cách trân trọng.
    “Một khi ta nỗ lực vì những lý do chính đáng… việc gì
    cũng thành công.”
    _ NellieBly (1864 1922)


    ALBERT EINSTEIN
    “Đứa chậm tiêu”
    Tuổi thơ:
    Albert Einstein sinh năm 1879 tại Ulm, nước Đức, và ông
    chậm nói đến mức cha mẹ tưởng ống bị thiểu năng thể nhẹ.
    Dù gia đình là người Do Thái nhưng thời tiểu học, ông
    theo học ở trường dòng và không phải là một học sinh giỏi
    giang. Các giáo viên nhận xét ông “chẳng giống ai” vì ông hỏi
    quá nhiều, phát biểu thì chậm chạp, thêm tật bẽn lẽn nên
    ngay cả bạn học cùng lớp cũng hghĩ ông là đứa “chậm tiêu”.
    Vị hiệu trưởng còn nói với gia đình ông rằng mai này cậu
    bé học ngành nào cũng không quan trọng, bởi cậu sẽ chẳng
    làm nên trò trống gì.
    Ông hay bẽn lẽn và mơ mộng, bạn bè thì chẳng chơi
    được với ai, thế nên ông cứ lủi thủi một mình hoặc ngồi nghe
    mẹ chơi đàn dương cầm hàng giờ đồng hồ.
    Trong khi bạn bè đùa nghịch trên sân thì ông đứng riêng
    một góc, chìm trong suy nghĩ và mơ mộng. Đối vối ông, niềm
    vui là sáng tác ra những bài hát ngắn trên đàn dương cầm,
    rồi ngân nga trong miệng những khi không có chiếc đàn bên
    cạnh.
    Nhiều giáo viên thời tiểu học cho rằng ông bị ”đần”.
    Chính tả là môn không nuốt nổi đối với ông, và bởi ông không
    thích học thuộc lòng nên ông học hành chểnh mảng, điểm số
    thì thấp lè tè.
    Năm 12 tuổi, ông bắt đầu mê mẩn Đại số, môn học về
    sau thay đổi toàn bộ cuộc đời ông bởi nó cho ông thấy người
    ta có thể làm được những gì chỉ bằng “những luồng suy nghĩ”.

    Và rồi, ông tìm đọc 'thật nhiều sách, tự học toán vi phân
    và tích phân. Nhưng ông vẫn không thích đến trường. Năm
    15 tuổi, ông bị trường cấp ba buộc thôi học vì kết quả học
    hành không tiến triển của ông là “tấm gương xấu” cho các
    học sinh khác.
    Sau khi rời khỏi trường, ông cùng gia đình chuyển đến Ý
    và bỏ quốc tịch Đức. Ông không có quốc tịch cho đến khi hình
    thức trở thành công dân Thụy Sĩ vào năm 1901.
    Ông trượt trong lần thi đầu tiên vào Viện Khoa học Công
    nghệ Liên bang Thụy Sĩ tại thành phố Zurich. Kết quả bài thi
    Toán và Vật lý của ông rất tốt, nhưng lại làm quá tệ môn Sinh
    học, Hóa học và tiếng Pháp.
    Khi được Viện Khoa học Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ
    nhận vào, kết quả học tập của ông cũng chẳng khá khẩm gì
    hơn bởi ông dành phần lớn thời gian và sức lực vào những gì
    mình thích, chứ không theo giáo trình do viện đặt ra. Ông
    không quan tâm đến phương pháp học kiểu đó, và ông rất
    ghét phải thường xuyên đến lớp rồi làm bài kiểm tra.
    Chính cách học hành kiểu này đã khiến ông không có
    được việc làm sau khi tốt nghiệp. Ông là sinh viên duy nhất
    tốt nghiệp mà không được viện mời làm trợ giảng.
    Trưởng thành:
    Sau khi tốt nghiệp vào năm 1900, Einstein tìm việc rất
    khó khăn, nên tạm thời ông đi dạy. Đến năm 1902, ông được
    Cục Sở hữu Trí tuệ Thụy Sĩ nhận vào làm với công này...
     
    Gửi ý kiến

    Sách không dạy ta sống thay ai, nhưng âm thầm chỉ cho ta cách sống sâu hơn, chậm hơn và có trách nhiệm hơn với chính mình.

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC LÊ VĂN TÁM, T. THANH HOÁ !