Sách nói Chuyện của Bắp Ăn Mơ Và Xóm Đồi Rơm - Cao Khải An
Dam Mo Uoc De Truong Thanh

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 15h:04' 11-03-2024
Dung lượng: 625.6 KB
Số lượt tải: 15
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 15h:04' 11-03-2024
Dung lượng: 625.6 KB
Số lượt tải: 15
Số lượt thích:
0 người
Chia sẻ ebook : Webhoctap.net
DÁM MƠ ƯỚC ĐỂ TRƯỞNG
THÀNH
25 CÂU CHUYỆN ĐỜI PHI
THƯỜNG
SANDRA MCLEOD HUMPHREY
In lần thứ 2
Đội ngũ thực hiện:
Uông Xuân Vy
Bùi Hoàng Thanh Dung
VIVA BOOKS
NHÀ XUẤT BẢN TỔNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
MỤC LỤC
DÁM MƠ ƯỚC ĐỂ TRƯỞNG THÀNH
25 CÂU CHUYỆN ĐỜI PHI THƯỜNG
lời nhắn nhủ
dành cho người lớn
lời nhắn nhủ
dành cho các độc giả trẻ
ABRAHAM LINCOLN
THOMAS ALVA EDISON
NELLIE BLY
ALBERT EINSTEIN
HELEN KELLER
ELEANOR ROOSEVELT
GEORGIA O'KEEFFE
JIM THORPE
NORMAN VINCENT PEALE
NGÔ KIỆN HÙNG
JACKIE ROBINSON
MAYA ANGELOU
MARTIN LUTHER KING JR
SANDRA DAY O'CONNOR
TONI MORRISON
BILL COSBY
MARIAN WRIGHT EDELMAN
WILMA RUDOLPH
ARTHUR ASHE
BEN CARSON
GLORIA ESTEFAN
ELLEN OCHOA
MICHAEL JORDAN
SAMMY SOSA
HEATHER WHITESTONE
Lời kết
“Bạn trẻ nào cũng cần có một người hùng. Trẻ con đứa nào
cũng cần một người kề cận, dẫn dắt khi phải đối mặt với các
quyết định khó khăn, giúp chúng biết sắp xếp thứ tự ưu tiên
trong cuộc sống, dạy cho chúng có trách nhiệm với những gì
mình nói và làm, và luôn là người ủng hộ chúng cuồng nhiệt
nhất. Dám Mơ ước Để Trưởng Thành đã làm được điều đó.
Quyển sách mang đến cho các bạn trẻ những người hùng thật
sự để họ trân trọng và noi theo.”
Tiến sĩ Terry Hitchcock,
Giám đốc điều hành Tổ chức Heroes & Dreams
“Dám Mơ Ước Để Trưởng Thành khích lệ các bạn trẻ biết đặt
mục tiêu và nỗ lực thật nhiều để khắc phục những trở ngại
đang cản bước họ trên con đường đi đến những mục tiêu đó.”
Daniel R. Hart,
Cựu thẩm phán hạt Hennepin, Minnesota
“Mỗi một bạn trẻ, bất kể hoàn cảnh gia đình ra sao, đều cần
một thứ: đó là hy vọng. Dám Mơ Ước Để Trưởng Thành góp
nhặt những câu chyện đời có thật của những con người nổi
tiếng, thành đạt đến từ mọi tầng lớp và trải qua đủ mọi
nghịch cảnh, buộc họ phải chinh phục núi cao, vực sâu và cả
dòng đời chảy xiết mà không bỏ quên ước mơ hay khoanh tay
trước số mệnh… Tác giả đã thành công rực rỡ trong việc
mang hy vọng đến với cuộc sống của các bạn trẻ, thông qua
nhửng câu chuyện thành công.”
Tiến sĩ Donald Draayer,
Chánh thanh tra xuất sắc cấp Quốc gia của năm 1990,
Kiêm giáo viên, quản lý và tư vấn giáo dục trong 46
năm
“Trong Dám Mơ ước Để Trưởng Thành, bạn sẽ tìm thấy câu
chuyện đời của rất nhiều con người thuộc mọi tầng lớp xã hội,
những người trở thành anh hùng bởi họ luôn mang trong
mình niềm tin mạnh mẽ đồng thời nỗ lực phấn đấu để hiện
thực hóa ước mơ. Chúng tôi khuyến khích các bạn trẻ hãy
dành thời gian để đọc quyển sách này để thực hiện được cả
hai điều ấy. Bằng việc tin vào chính mình và vươn đến những
gì cao cả tốt đẹp, bạn không chỉ đạt được mục tiêu đề ra, mà
còn trở thành mẫu người mà mình khao khát - một cá nhân
xứng đáng được gia đình, bè bạn và đồng sự tôn vinh.”
_Sara 0'Meara,
Chủ tịch Hội đổng quản trị kiêm CEO và Yvonne
Fedderson,
Đại diện tổ chức Childhelp USA
“Dám Mơ ước Để Trưởng Thành là quyển sách dành cho thế
hệ trẻ mà tôi dám mơ ước về họ. Thay vì toàn đề cập đến thể
thao, giải trí và lối sống trọng tiền tài, danh vọng như những
gì giới truyền thông đang ngày đêm nhồi nhét, tác phẩm này
viết về những lựa chọn trong cuộc sống và quá trình nỗ lực
tìm kiếm thành công của những con người nổi tiếng vốn phải
đương đầu với vô vàn khó khăn… Tôi hy vọng quyển sách này
sẽ trở nên phổ biến trong các trường cấp hai.”
_Benjamin s. Carson Sr.,
Bác sĩ chuyên khoa kiêm Trưởng khoa Giải phẫu thần
kinh nhi,
Bệnh viện Johns Hopkins
Người hùng là những con người bình thường làm nên những
điều phi thường trong cuộc sống, và quyển sách này tôn vinh
tất cả những vị anh hùng của chúng ta - từ quá khứ đến hiện
tại và cả tưong lai.
Mối nguy lớn nhất đối với đa số chúng ta không phải là đặt
mục tiêu quá cao, để rồi thất bại, mà chính việc ta đặt mục
tiêu quá dễ dàng, rồi đạt dược nó.
Michelangelo
(1475 - 1564)
lời nhắn nhủ
dành cho người lớn
___________________________________________
Có quá nhiều bạn trẻ thời nay thiếu những người hùng
để noi theo, không biết đặt mục tiêu và sống không định
hướng.
Quyển sách này viết ra nhằm đánh thức những ước mơ
lãng quên và khơi dậy những người hùng trong lòng các bạn
trẻ. Người hùng ở đây không phải là những siêu nhân không
bao giờ gặp rắc rối, mà chính là những con người bình thường
mang trong mình một ước mơ và quyết tâm theo đuổi ước mơ
ấy đến cùng, nỗ lực thật nhiều để vượt qua mọi trở ngại và
cuối cùng đạt được ước mơ ấy.
Quyển sách này dành tặng cho các bạn trẻ trên khắp thế giới
nhằm khuyến khích họ Dám Mơ Ước, theo đuổi nó đến cùng
và đừng bao giờ bỏ cuộc.
lời nhắn nhủ
dành cho các độc giả trẻ
_________________________________________________
Khi bạn đọc phần tóm tắt tiểu sử của các nhân vật sau
đây, bạn sẽ nhận ra một điều: họ không phải là những con
người xuất chúng toàn diện, nhưng rõ ràng mỗi người đều có
những tài năng và thế mạnh riêng hết sức đặc biệt. Và một
điều nữa là giữa các tiểu sử ấy có vài điểm tương đồng —
những điểm chung mà bạn sẽ thấy lặp đi lặp lại trong từng
câu chuyện.
Họ đều dũng cảm như nhau. Một số mạnh mẽ về thể
chất, số khác về đạo đức hoặc mang một tinh thần thép,
nhưng tất thảy đều sẵn sàng đón nhận rủi ro và can đảm bảo
vệ chính kiến của mình, dù đôi khi điều đó đồng nghĩa với
việc phải một mình chiến đấu trên mặt trận cuộc sống.
Tất cả họ đều kiên trì theo đuổi ước mơ. Họ rất bền chí,
kiên cường, cả cương trực nữa, để vượt qua mọi trắc trở
những phút nản lòng và không bao giờ từ bỏ. Họ là những
vận động viên chạy đua đường trường bền sức chứ không
phải những tay đua chạy nước rút, và họ bám trụ đường đua
đến cùng.
Ai cũng có những trở ngại phải vượt qua. Một số gặp khó
khăn về thể chất (như bị tật nguyền, sức khỏe yếu hoặc vẻ
ngoài không mấy ưa nhìn), một số gặp khó khăn về tâm lý
(vô cùng rụt rè, nhút nhát, hoặc luôn cảm thấy tự ti), số khác
gặp trở ngại về mặt tài chính (như gánh nặng trách nhiệm, sự
kỳ vọng đi kèm với cuộc sống giàu sang, hoặc là cực kỳ
nghèo khó), hoặc những trường hợp gặp khó khăn trong đời
sống xã hội (bị kỳ thị chủng tộc hoặc không được học hành).
Họ cố gắng vượt lên hoàn cảnh bằng cách làm việc chăm chỉ,
tin vào bản thân, và một số còn biến nhược điểm thành ưu
điểm bằng cách thay đổi thái độ sống.
Và cuối cùng, tất cả đều mang trong mình những khát
khao lớn. Cảm giác hài lòng mãn nguyện không xuất phát từ
thành công cá nhân hay từ cuộc sống đầy đủ, mà chính từ-sứ
mệnh muốn cải thiện cuộc sống cho những người chung
quanh họ.
ABRAHAM LINCOLN
“Đồ chây lười”
Abraham Lincoln sinh ra trong một căn nhà gỗ nhỏ tại
Ken- tucky, Hoa Kỳ, một trong những bang dành cho nô lệ,
vào năm 1809 và được đặt theo tên của ông nội.
Năm Abraham lên 7 tuổi, gia đình ông chuyển đến
Indiana, vùng đất của sự tự do và chế độ nô lệ không được
chấp nhận ở nơi này.
Tại đây, ông và chị gái Sally hàng ngày phải lội bộ hơn
14 cây số đường rừng để đến lớp; con đường có nhiều động
vật hoang dã như gấu, hươu, nai, gấu trúc Bắc Mỹ và cả mèo
rừng sinh sống.
Cha ông cảm thấy con mình ngày ngày lặn lội hơn 14
cây số đến trường chỉ để ngồi cùng mấy đứa trẻ khác và học
cả ngày thật phí thời gian, nhưng mẹ ông, Nancy, lại khuyến
khích việc học của con. Bà dặn ông phải cố gắng học càng
nhiều càng tốt.
Năm Abraham được 9 tuổi, mẹ ông qua đời. Cả gia đình
ông chìm trong không khí ảm đạm thê lương, cho đến khi cha
ông tái hôn với một người phụ nữ khác một năm sau đó. Ông
thỉnh thoảng nhắc đến mẹ kế Sarah như một người bạn tốt
nhất mà ông từng có với tên gọi trìu mến “người mẹ thiên
thần”.
Ông thường hỏi cha nhiều câu khiến người nổi đóa, và
rất nhiều đêm ông thức trắng, nằm vắt tay lên trán nghĩ về
những từ phức tạp đối với một đứa trẻ như “độc lập” và “định
mệnh”.
Lớn thêm một chút, vẻ ngoài của ông không được ưa
nhìn cho lắm, thậm chí một số người còn thẳng thừng chê
ông xấu xí, thô kệch. Trong mắt mọi người, ông cao lênh
khênh, kỳ khôi, dị hợm và “chẳng khác gì bộ xương di động”.
Ông đi đứng chậm chạp, khác người, hai vai thõng xuống
và với chiều cao quá khổ, mỗi khi bước qua cửa, ông đều phải
cúi đầu thấp xuống.
Khác hẳn bạn bè đồng trang lứa, ông chẳng ham chơi
bài, uống rượu hay vác súng đi săn. Năm 11 tuổi, ông có bắn
chết một con gà gô chạy rông trên đồng cỏ, và từ đó về sau,
ông không tham gia săn bắn gì nữa.
Bạn bè và một số họ hàng cho rằng ông “thuộc hàng lập
dị” bởi cả ngày ông chỉ biết vùi đầu đọc sách, thậm chí từng
đi bộ hơn 30 cây số chỉ để mượn một quyển sách mà ông
muốn đọc.
Mẹ kế Sarah lúc nào cũng khuyến khích niềm đam mê
đọc sách và tinh thần hiếu học của ông, trong khi cha ông
cho rằng việc mê chữ nghĩa sách,vở là biểu hiện của kẻ lười
biếng.
Dù cha ông suốt ngày càm ràm chuyện đọc sách là “phí
phạm thời giờ”, Abraham vẫn yêu sách hơn bất kỳ thứ gì khác
trên đời. Ông đọc tất cả những quyển sách nào ông tìm được
trong vòng bán kính 80 cây số quanh nhà.
Ông hay chia sẻ rằng mình tiếp thu kiến thức chậm,
nhưng bộ não của ông như một miếng thép, “rất khó khắc
chữ lên nó, nhưng một khi đã khắc thành công, chữ nghĩa
chẳng thể nào bay mất”.
Người hàng xóm thuê ông làm việc than phiền, “thằng
này cả ngày đọc sách và suy tư” và người này xem ông là “đồ
lười chảy thây”.
Chưa bao giờ ông hòa hợp được với cha mình, nhưng ông
lại dành tình thương yêu đặc biệt cho mẹ kế, bởi bà hiểu ông
ham học đến nhường nào và luôn động viên ông đọc càng
nhiều càng tốt.
Thật ra, ông chẳng được đến lớp nhiều (tổng cộng chưa
đầy một năm đi học), nhưng ngọn lửa đam mê học hỏi trong
ông thì không thể nào dập tắt được, ông luôn nói rằng những
gì ông muốn biết đều nằm trong sách, và người bạn tốt nhất
của ông là “người trao cho tôi quyển sách tôi chưa được đọc
bao giờ”.
Dù ông từng là nhà vô địch chạy đua, nhảy cao và đấu
vật ở rất nhiều hạt, nhưng tình yêu to lớn nhất đời ông vẫn
dành cho sách và việc học.
Trưởng thành:
Năm 19 tuổi, 'Abraham Lincoln rời nhà đến Illinois để
phụ việc trên một chiếc xà lan chở hàng xuôi theo dòng
Mississippi đến New Orleans. Tại đây, ông chứng kiến một
cuộc đấu giá nô lệ.
Cảnh những người da đen ở miền Nam bị đối xử không
khác gì đồ vật đã ám ảnh ông mãi về sau. ông thề sẽ đấu
tranh chống lại chế độ nô lệ bằng mọi giá.
Năm 22 tuổi, ông trở về Illinois làm chân bán hàng cho
một cửa tiệm, nhưng không may tiệm thua lỗ phải đóng cửa.
Thế là ông thử mở cửa hàng riêng nhưng cũng thất bại nốt.
Phải mất mấy năm trời ông mới trả hết nợ nần từ thương vụ
này.
Ngoài kinh nghiệm phụ việc trên tàu và trông cửa hàng,
ông còn làm thợ chặt gỗ, giám đốc bưu điện, giám định viên,
đội trưởng đội dân quân và tự học thêm ngành luật.
Đến năm 23 tuổi, ông tranh cử vào một vị trí thuộc cơ
quan lập pháp bang Illinois nhưng thất bại. Hai năm sau, ông
tái tranh cử và lần này, ông được ngồi vào chiếc ghế đó từ
năm 1834 đến năm 1841.
Người đời thường nói, trong vai trò luật sư, ông tuy nổi
tiếng nhưng không có tài, còn trong vai trò chính trị gia, ông
có tài nhưng không phải lúc nào cũng nổi tiếng.
Ông được bầu làm thành viên Hạ nghị viện Hoa Kỳ năm
1846 trong một nhiệm kỳ. Năm 1860, ông trở thành tổng
thống thứ 16 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.
Sau lần bầu cử này, 7 bang phía Nam tách ra khỏi liên
minh và thành lập nhà nước tự trị. Họ tự gọi mình là Liẻn
minh miền Nam Hoa Kỳ và bầu Jefferson Davis lên làm tổng
thống. Nước Mỹ bị chia hai.
Khi phe ly khai nổ phát súng khai chiến đầu tiên tại đồn
Sumter vào ngày 12 tháng 4 năm 1861, cuộc nội chiến chính
thức bắt đầu. Khi ấy có tổng cộng 11 bang gia nhập Liên
minh miền Nam - tất cả đều là những bang muốn giữ lại chế
độ nô lệ.
Tình trạng nô lệ là nguyên nhân gây ra cuộc nội chiến,
và Abraham biết rõ đất nước này không bao giờ có hòa bình
nếu cứ duy trì một nửa tự do, một nửa nô lệ. Thế nên, năm
1863, ông ký bản tuyên ngôn giải phóng nô lệ, trong đó
tuyên bố tất cả nô lệ thuộc các bang miền Nam nổi dậy đều
được trả tự do. Đối với ông, đó là hành động quan trọng nhất
trong suốt nhiệm kỳ làm tổng thống của mình.
Ông còn là một nhà văn và nhà hùng biện tài năng. Bài
diễn văn của ông tại thị trấn Gettysburg vào năm 1863 vẫn
được xem là một trong những bài phát biểu vĩ đại nhất trong
lịch sử.
Nếu không có sự sáng suốt và tài lãnh đạo cứng rắn của
ông trong suốt thời kỳ nội chiến, hẳn nước Mỹ vẫn còn chịu
cảnh chia cắt đến ngày hôm nay. Ông là hiện thân của tinh
thần tự do, dân chủ bất diệt và ông đã chứng minh cho cả thế
giới thấy “chính phủ của dân, do dân và vì dân” sẽ vĩnh hằng.
Ông tái đắc cử tổng thống Hoa Kỳ vào năm 1864 nhưng
không lâu sau, ông bị John Wilkes Booth, một nam diễn viên
bị loạn trí, bắn chết vào ngày 14 tháng 4 năm 1865 - chỉ 5
ngày sau khi Đại tướng Lee tuyên bố đầu hàng tại thành phố
Appomattox, bang Virginia, kết thúc cuộc nội chiến.
Ngày nay, Abraham vẫn được xem là một trong những vị
tổng thống vĩ đại nhất. Dù ông đã qua đời hơn một thế kỷ,
nhưng tài lãnh đạo và lòng quả cảm của ông vẫn mãi là tấm
gương của biết bao nhiêu người trên thế giới.
“Một căn nhà bị chia làm đôi không thể nào đứng
vững.”
AbrahamLincoln (1809 1865)
THOMAS ALVA EDISON
“Thứ đầu óc không bình thường”
Tuổi thơ:
Thomas Alva Edison sinh năm 1847 tại thành phố Milan,
bang Ohio, Hoa Kỳ. Ngay từ khi còn là một cậu bé, tính tò mò
đã khiến ông vướng phải không biết bao nhiêu là rắc rối.
Lúc nào ông cũng hỏi “Tại sao?” Mới lên 3 tuổi, ông bị
ngã vào chiếc máy hút lúa và suýt chết ngạt trong đó vì ông
muốn biết cỗ máy hoạt động ra sao. Năm ông 4 tuổi, cha ông
phát hiện con trai mình ngồi chồm hổm ấp mấy cái trứng vịt
trong chuồng gia súc lạnh ngắt, vì ông muốn xem liệu mình
có thay vịt mẹ ấp cho trứng nở được không.
Ông đến lớp chẳng được bao nhiêu vì các giáo viên cho
rằng việc ông hỏi suốt ngày là do đầu óc ông ngu dốt. Vậy
nên, năm ông lên bảy tuổi, mẹ ông vốn cũng là một giáo viên
quyết định, cho con nghỉ học ở trường và dạy con học tại nhà.
Mấy người hàng xóm nghĩ đứa bé trai kỳ dị với thân hình
nhỏ thó, cái đầu to quá mức bình thường cùng những câu hỏi
không bao giờ dứt ấy hẳn là đồ “tưng tửng”, thậm chí một
bác sĩ trong vùng còn e ngại rằng cậu bé “có vấn đề về trí
não” cũng bởi cái đầu to quá khổ kia.
Ông mê đọc sách vô cùng. Đặc biệt, sách viết về hóa học
là loại sách khoái khẩu nhất của ông, nhưng ông đọc thì ít,
thực hành thì nhiều, ông thử rất nhiều thí nghiệm được mô tả
trong sách để chứng minh với bản thân rằng những gì sách
viết là thật.
Khoảng 10 tuổi, ông tự lập ra phòng thí nghiệm riêng
trong tầng hầm dưới nhà, và trong một lần thí nghiệm, ông
làm lửa cháy đùng đùng và suýt thổi bay ông ra khỏi căn
hầm.
Đến năm 12 tuổi, để kiếm tiền mua hóa chất làm thí
nghiệm, ông mang kẹo và báo đi bán ở trạm xe lửa gần nhà,
và tranh thủ thời gian rảnh ở nhà ga để làm thí nghiệm.
Ông bị buộc phải tạm chấm dứt mấy trò thí nghiệm của
mình khi một mảnh phốt-pho bắt lửa trong căn phòng thí
nghiệm tạm bợ ông bày ra ở một toa xe chở hành lý. Viên
quản lý tống cổ ông cùng mấy thứ vật dụng thí nghiệm khi xe
lửa dừng ở trạm kế tiếp.
Hầu như lúc nào ông cũng thí nghiệm và thí nghiệm. Có
lần, ông còn cho đứa bạn uống 3 liều bột thuốc tẩy nhẹ với
hy vọng bụng nó sẽ giải phóng ra đủ khí để bay lên. Kết quả
là đứa bạn đau bụng quằn quại, còn ông thì ăn một trận đòn
nhớ đời.
Năm 16 tuổi, ông có cơ hội được học làm nhân viên đánh
điện tín, sau đó ông quay sang mê ngành điện không kém gì
ngành hóa trước đây.
Và bởi trong đầu ông lúc nào cũng đầy ý tưởng thay vì
chú tâm vào công việc phải làm, ông trở thành một nhản viên
điện tín cực kỳ chểnh mảng.
Chỉ sau một năm làm việc, ông bị sa thải vì cả ngày chỉ
có đọc sách, thí nghiệm rồi ngủ gục.
Trong giới nhân viên điện tín, ông nổi tiếng là “đồ gàn
dở” vì dành quá nhiều thời gian cho chuyện đọc và thí
nghiệm.
Các đồng nghiệp suốt ngày châm chọc, cười cợt vẻ ngoài
xòang xĩnh, đầu tóc rối bù của ông. sếp ông thì mất hết kiên
nhẫn với một nhân viên như ông, “một kẻ thiếu thực tế, đầu
óc trên mây và chắc cả đời chẳng làm nên trò, trống gì”.
Trưởng thành:
Năm 21 tuổi, Edison không thí nghiệm nữa mà chuyển
sang phát minh sản phẩm toàn thời gian. Có quá nhiều sáng
kiến mà ông biết mình phải nỗ lực thật nhiều để làm ra mọi
thứ mình muốn.
Khi thị trường cho những phát minh của ông phát triển,
ông nhận ra mình cần nhiều trang thiết bị cỡ lớn. Thế là năm
1876, ông chuyển đến Menlo Park, bang New Jersey, tại đây,
ông lập nên trung tâm nghiên cứu của riêng mình. Ông mời
tất cả những thợ thủ công và nhà khoa học giỏi nhất ông tìm
được, đưa họ vào làm nơi ông gọi là “nhà máy của những ý
tưởng”.
Một năm sau, phát minh vĩ đại đầu tiên được cả thế giới
biết đến - chiếc máy hát đĩa - đã ra đời. Với phát minh này,
thoắt cái ông trở thành người nổi tiếng, nhưng tất cả chỉ mới
bắt đầu.
Năm 1879, sau nhiều tháng miệt mài, ông cho ra đời
một phát minh vĩ đại khác - bóng đèn điện - sản phẩm làm
thay đổi cách sống của nhân loại mãi mãi.
Cả đời ông là những câu hỏi “tại sao” không bao giờ dứt.
Và việc tiếp theo ông làm là tìm hiểu xem còn cách nào khác
hơn, hay hơn để làm mọi thứ hay không.
Sự kiên nhẫn trong ông là vô hạn, và hiếm khi nào ông
nản lòng, ông tiếp cận vấn đề với thái độ tích cực và không
bao giờ bỏ cuộc cho đến khi nào giải quyết được mới thôi. Mỗi
ngày ông làm việc 18 tiếng đồng hồ là chuyện bình thường,
và trong cả cuộc đời mình, ông sở hữu hơn 1.000 bằng sáng
chế khác nhau cho các phát minh của mình.
Chính nhờ tính tò mò bẩm sinh và nỗ lực làm việc không
mệt mỏi của ông mà thế giới chúng ta đang sống ngày nay
tốt đẹp hơn trước rất nhiều.
Chưa từng có ai mang các khám phá khoa học vào đời
sống nhiều như ông với máy hát đĩa (phát minh theo ông là vĩ
đại nhất), bóng đèn điện, máy đánh chữ, máy ghi âm, máy
phát điện, máy quay phim và nhiều sản phẩm khác. Ông còn
cải tiến một số phát minh đã có từ trước như điện thoại và
máy điện tín.
Chưa bao giờ ông để cho những “thất bại” (theo cách
người đời gọi) làm ông nhụt chí; thay vào đó, ông xem chúng
như những nấc thang cần thiết trong cuộc đời làm khoa học
của mình.
Ông tự dàn dựng và thực hiện bộ phim câm đầu tay,
ngoài ra ông tạo ra “hình ảnh biết nói” bằng cách kết hợp 2
phát minh của mình: máy hát đĩa và máy quay phim. Với 2
phát minh này, có lẽ ông là nguời đóng góp to lớn nhất vào
ngành công nghiệp giải trí của thế giới hơn bất kỳ ai.
Dù sau này đã trở thành một triệu phú, ông vẫn khiêm
tốn và luôn cảm thấy hạnh phúc nhất vào những lúc được làm
việc trong phòng thí nghiệm để phát minh ra sản phẩm mới.
Ông đuợc Quốc hội Hoa Kỳ truy tặng Huy chuơng Danh
dự vào năm 1928, và vào ngày ông mất ở tuổi 84, Tổng
thống Herbert Hoover đã yêu cầu tất cả công dân Mỹ tắt bóng
đèn điện trong vòng một giờ để tưởng nhớ tài năng sáng tạo
khôn cùng của Thomas Edison.
Ông là một trong những nhà sáng chế vĩ đại nhất mà thế
giới từng biết. Ông đã gặt hái được nhiều hơn là cải thiện
cuộc sống của một người bình thường. Bạn thấy đấy, chính
những phát minh vĩ đại của ông đã giúp cho cuộc sống hàng
ngày của chúng ta dễ chịu và thoải mái hơn rất nhiều - điều
mà không phải nhà khoa học nào trong lịch sử cũng làm
được.
“Thiên tài chỉ có 1% bẩm sinh, còn lại 99% là do cần
cù.”
Thomas Alva Edison (1847 1931
NELLIE BLY
Người tự nhận mình là “cô gái mồ côi đơn độc”
Cha bà, ông Michael Cochran, nổi tiếng là người cương
trực và tham vọng, tự mình vươn lên trong cuộc sống - từ
một thợ rèn bình thường, ông đã trở thành một địa chủ giàu
có thịnh vượng và một thẩm phán có tầm ảnh hưởng.
Rõ ràng, Eliàabeth thừa hưởng tố chất cương trực và ý
chí mạnh mẽ từ cha, cùng vẻ điệu đàng từ mẹ.
Tuổi thơ:
Elizabeth Jane Cochran sinh năm 1864 tại Cochran's
Mills, bang Pennsylvania, thành phố được đặt theo tên của
ngưòi công dân lỗi lạc nhất vùng, cha bà.
Elizabeth được làm phép rửa tội trong chiếc váy màu
hồng, và trong khi các bé gái khác mặc những bộ váy nâu
sồng, xám xịt chán ngắt, thì mẹ của bà trau chuốt cho con
gái bộ váy hồng sặc sỡ.
Hồng luôn là màu yêu thích của Elizabeth; từ bé bà đã
mặc màu hồng thường xuyên đến nỗi “Hồng” trở thành biệt
danh của bà.
Cha bà luôn khuyến khích bà đọc sách, thế nên từ những
năm tháng đầu đời bà đã đặc biệt yêu thích văn chương và
sáng tác truyện.
Nhưng khi Elizabeth lên 6 tuổi, cuộc đời bà xảy ra biến
động dữ dội. Cha bà qua đời sau một cơn bạo bệnh ập đến
bất ngờ khiến toàn thân ông bị liệt.
Dù từng là một công dân tiêu biểu có nhiều đóng góp to
lớn cho cộng đồng, nhưng khi qua đời, cha bà chết đi mà
không kịp để lại di chúc. Không sở hữu giấy tờ hợp pháp
trong tay, mẹ Elizabeth bị buộc phải mang toàn bộ tài sản của
chồng ra đấu giá và toàn bộ gia đình bà bị bắt chuyển sang
sống trong một căn hộ chật chội hơn nhiều.
Với hy vọng 5 đứa con của mình có một cuộc sống sung
túc, mẹ Elizabeth tái hôn. Nhưng bất hạnh thay, người cha
dượng có thói hành hạ ngược đãi con riêng của vợ, và vào
năm 14 tuổi, Elizabeth phải ra tòa làm chứng để giúp mẹ
được chấp thuận ly hôn.
Sau vụ việc đó, Elizabeth cùng gia đình chuyển đến sống
tại một thành phố xô bồ, tăm tối vùng Pittsburgh, với hy vọng
sẽ dễ kiếm việc làm hơn ở nơi đây.
Trải qua những năm tháng chứng kiến cuộc hôn nhân
thứ hai đầy khốn khổ của mẹ, Elizabeth nhận ra một điều
rằng bà không muốn bị lệ thuộc vào bất kỳ ai, trừ chính bản
thân mình, thế nên trong khi các bạn gái đồng trang lứa chọn
con đường hôn nhân, bà quyết định ưu tiên sự nghiệp.
Có điều, để kiếm được việc làm không dễ. Các anh em
trai của bà nhanh chóng kiếm được những chân làm việc
nhàn hạ chốn văn phòng, còn công việc dành cho cánh phụ
nữ thời bấy giờ toàn là trong những nhà máy, xưởng chế biến
bóc lột sức lao động công nhân tàn tệ.
Suốt 4 năm ròng rã, bà nằm trong số những phụ nữ
không thể tìm nổi cho mình một công việc ổn định với mức
tiền công đàng hoàng tử tế.
Thế rồi, vào tháng Giêng năm 1885, bà đọc được một:
bài viết trên tờ Pittsburgh Dispatch có nhan đề “Những Thế
Mạnh Của Nữ Giới”. Tác giả của bài báo chính là Erasmus
Wilson, nhà báo tiếng tăm nhất vùng Pittsburgh. Ông cho
rằng bất kỳ phụ nữ nào có việc làm đều là “quái nhân” bởi
phụ nữ sinh ra là để ở nhà chăm lo gia đình và nuôi dạy con
cái.
Elizabeth vô cùng tức giận đến nỗi bà gửi một bức thư
chống đối nặc danh đến George Madden, chủ bút tờ Dispatch,
trong đó miêu tả chi tiết hoàn cảnh khó khăn của rất nhiều
phụ nữ trẻ đang phải làm việc quần quật để sống sót - ở xứ
sở Pittsburgh cay nghiệt.
Bài báo đó đã thay đổi cuộc đời bà mãi mãi!
Trưởng thành:
George Madden cảm thấy cực kỳ ấn tượng với bức thư ký
tên “Cô gái mồ côi đơn độc” này. Ông cho đăng vài dòng trên
số Chủ Nhật kêu gọi tác giả tiết lộ danh tính.
Ngày hôm sau, Elizabeth nhận công việc đầu tiên của
mình: trở thành một nhà báo. Bản chất công việc đòi hỏi bà
phải chọn bút danh, bởi trong những ngày ấy, người ta không
chấp nhận chuyện phụ nữ viết báo và công khai tên tuổi
trước công chúng.
Sau nhiều gợi ý từ những nhân viên phòng biên tập, ông
Madden quyết định chọn tên Nellie Bly cho bà, cũng là tên
nhân vật trong bài hát “Nellie Bly” do Stephen Foster sáng
tác 35 năm về trước.
Nellie tập trung viết về những bất công trong xã hội và
bà cũng là người khơi mào cho công tác điều tra báo chí. Bà
đặc biệt xuất sắc trong nhiệm vụ nhập vai để tác nghiệp, giả
làm một nữ công nhân nghèo khổ nhằm phơi bày mức độ tàn
nhẫn và điều kiện làm việc đáng sợ trong các nhà xưởng, nơi
biết bao phụ nữ đang cặm cụi làm việc ngày đêm.
Khi các chủ nhà máy dọa sẽ rút quảng cáo khỏi tờ
Dispatch sau những bài viết của bà, Nellie thuyết phục vị chủ
bút chuyển bà sang công tác ở Mexico. Tại Mexico, bà tiếp tục
viết bài về tình trạng nghèo đói và tham nhũng chính trị, dẫn
đến hệ lụy là bà bị chính phủ nước này trục xuất.
Thay vì trở về Pittsburgh, bà đến thành phố New York với
hy vọng sẽ tìm được việc ở những tòa soạn lớn. Nhưng 4
tháng trôi qua, bà vẫn thất nghiệp và không một xu dính túi.
Cuối cùng, bà cũng liên hệ được với văn phòng của tờ báo lớn
nhất New York lúc bấy giờ, tờ New York World. Sự xuất hiện
của bà thật đúng nơi đúng lúc, bởi khi ấy tờ báo đang tìm
một phóng viên điều tra đủ thông minh và can đảm để thâm
nhập vào nhà thương điên dành cho nữ giới Women's Lunatic
Asylum tại Blackwell's Island nhằm làm sáng tỏ tin đồn nơi
này ngược đãi và quấy rối bệnh nhân.
Sau này bà mô tả nhà thương điên này là “bẫy người” và
chính chuyến công tác liều lĩnh, táo bạo ấy đã không chỉ đưa
bà lên hàng phóng viên tên tuổi lẫy lừng trong làng báo New
York, mà còn kéo theo công cuộc cải thiện điều kiện chăm sóc
bệnh nhân tâm thần tại New York.
Mùa thu năm 1888, khi bà biết tờ World có ý định gửi
một phóng viên nam đi vòng quanh thế giới trong vòng 80
ngày, bà dọa sẽ thực hiện điều tương tự trong khoảng thời
gian ngắn hơn cho một tờ báo khác nếu World không chọn bà
thay cho người đàn ông kia.
Chuyến đi đã biến bà thành nhân vật nổi tiếng khi tờ World
cập nhật tình hình chuyến đi của bà mỗi ngày trên mặt báo.
Khi cuộc hành trình kết thúc với số ngày kỷ lục: 72 ngày, bà
trở về trong sự đón chào nồng nhiệt của đám đông.
Trong cả cuộc đời làm báo của mình, bà luôn nỗ lực
chống lại cái xấu. Từ chỗ vào vai bệnh nhân tâm thần để
thâm nhập vào nhà thương điên nhằm phơi bày điều kiện
nuôi bệnh vô nhân đạo ở nơi này, đến việc trở thành một
trong số phóng viên chiến trường đầu tiên tường thuật từ tiền
tuyến của Thế chiến thứ nhất, bà tranh đấu để vạch mặt bất
công và tham nhũng, góp phần tái lập vai trò của phụ nữ vốn
bị bó buộc suốt hàng thế kỷ tại Mỹ.
Khi bà qua đời năm 1922 sau trận bệnh viêm phổi, tất cả
những tờ báo tại New York đồng loạt đăng cáo phó về cuộc
đời bà một cách trân trọng.
“Một khi ta nỗ lực vì những lý do chính đáng… việc gì
cũng thành công.”
_ NellieBly (1864 1922)
ALBERT EINSTEIN
“Đứa chậm tiêu”
Tuổi thơ:
Albert Einstein sinh năm 1879 tại Ulm, nước Đức, và ông
chậm nói đến mức cha mẹ tưởng ống bị thiểu năng thể nhẹ.
Dù gia đình là người Do Thái nhưng thời tiểu học, ông
theo học ở trường dòng và không phải là một học sinh giỏi
giang. Các giáo viên nhận xét ông “chẳng giống ai” vì ông hỏi
quá nhiều, phát biểu thì chậm chạp, thêm tật bẽn lẽn nên
ngay cả bạn học cùng lớp cũng hghĩ ông là đứa “chậm tiêu”.
Vị hiệu trưởng còn nói với gia đình ông rằng mai này cậu
bé học ngành nào cũng không quan trọng, bởi cậu sẽ chẳng
làm nên trò trống gì.
Ông hay bẽn lẽn và mơ mộng, bạn bè thì chẳng chơi
được với ai, thế nên ông cứ lủi thủi một mình hoặc ngồi nghe
mẹ chơi đàn dương cầm hàng giờ đồng hồ.
Trong khi bạn bè đùa nghịch trên sân thì ông đứng riêng
một góc, chìm trong suy nghĩ và mơ mộng. Đối vối ông, niềm
vui là sáng tác ra những bài hát ngắn trên đàn dương cầm,
rồi ngân nga trong miệng những khi không có chiếc đàn bên
cạnh.
Nhiều giáo viên thời tiểu học cho rằng ông bị ”đần”.
Chính tả là môn không nuốt nổi đối với ông, và bởi ông không
thích học thuộc lòng nên ông học hành chểnh mảng, điểm số
thì thấp lè tè.
Năm 12 tuổi, ông bắt đầu mê mẩn Đại số, môn học về
sau thay đổi toàn bộ cuộc đời ông bởi nó cho ông thấy người
ta có thể làm được những gì chỉ bằng “những luồng suy nghĩ”.
Và rồi, ông tìm đọc 'thật nhiều sách, tự học toán vi phân
và tích phân. Nhưng ông vẫn không thích đến trường. Năm
15 tuổi, ông bị trường cấp ba buộc thôi học vì kết quả học
hành không tiến triển của ông là “tấm gương xấu” cho các
học sinh khác.
Sau khi rời khỏi trường, ông cùng gia đình chuyển đến Ý
và bỏ quốc tịch Đức. Ông không có quốc tịch cho đến khi hình
thức trở thành công dân Thụy Sĩ vào năm 1901.
Ông trượt trong lần thi đầu tiên vào Viện Khoa học Công
nghệ Liên bang Thụy Sĩ tại thành phố Zurich. Kết quả bài thi
Toán và Vật lý của ông rất tốt, nhưng lại làm quá tệ môn Sinh
học, Hóa học và tiếng Pháp.
Khi được Viện Khoa học Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ
nhận vào, kết quả học tập của ông cũng chẳng khá khẩm gì
hơn bởi ông dành phần lớn thời gian và sức lực vào những gì
mình thích, chứ không theo giáo trình do viện đặt ra. Ông
không quan tâm đến phương pháp học kiểu đó, và ông rất
ghét phải thường xuyên đến lớp rồi làm bài kiểm tra.
Chính cách học hành kiểu này đã khiến ông không có
được việc làm sau khi tốt nghiệp. Ông là sinh viên duy nhất
tốt nghiệp mà không được viện mời làm trợ giảng.
Trưởng thành:
Sau khi tốt nghiệp vào năm 1900, Einstein tìm việc rất
khó khăn, nên tạm thời ông đi dạy. Đến năm 1902, ông được
Cục Sở hữu Trí tuệ Thụy Sĩ nhận vào làm với công này...
DÁM MƠ ƯỚC ĐỂ TRƯỞNG
THÀNH
25 CÂU CHUYỆN ĐỜI PHI
THƯỜNG
SANDRA MCLEOD HUMPHREY
In lần thứ 2
Đội ngũ thực hiện:
Uông Xuân Vy
Bùi Hoàng Thanh Dung
VIVA BOOKS
NHÀ XUẤT BẢN TỔNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
MỤC LỤC
DÁM MƠ ƯỚC ĐỂ TRƯỞNG THÀNH
25 CÂU CHUYỆN ĐỜI PHI THƯỜNG
lời nhắn nhủ
dành cho người lớn
lời nhắn nhủ
dành cho các độc giả trẻ
ABRAHAM LINCOLN
THOMAS ALVA EDISON
NELLIE BLY
ALBERT EINSTEIN
HELEN KELLER
ELEANOR ROOSEVELT
GEORGIA O'KEEFFE
JIM THORPE
NORMAN VINCENT PEALE
NGÔ KIỆN HÙNG
JACKIE ROBINSON
MAYA ANGELOU
MARTIN LUTHER KING JR
SANDRA DAY O'CONNOR
TONI MORRISON
BILL COSBY
MARIAN WRIGHT EDELMAN
WILMA RUDOLPH
ARTHUR ASHE
BEN CARSON
GLORIA ESTEFAN
ELLEN OCHOA
MICHAEL JORDAN
SAMMY SOSA
HEATHER WHITESTONE
Lời kết
“Bạn trẻ nào cũng cần có một người hùng. Trẻ con đứa nào
cũng cần một người kề cận, dẫn dắt khi phải đối mặt với các
quyết định khó khăn, giúp chúng biết sắp xếp thứ tự ưu tiên
trong cuộc sống, dạy cho chúng có trách nhiệm với những gì
mình nói và làm, và luôn là người ủng hộ chúng cuồng nhiệt
nhất. Dám Mơ ước Để Trưởng Thành đã làm được điều đó.
Quyển sách mang đến cho các bạn trẻ những người hùng thật
sự để họ trân trọng và noi theo.”
Tiến sĩ Terry Hitchcock,
Giám đốc điều hành Tổ chức Heroes & Dreams
“Dám Mơ Ước Để Trưởng Thành khích lệ các bạn trẻ biết đặt
mục tiêu và nỗ lực thật nhiều để khắc phục những trở ngại
đang cản bước họ trên con đường đi đến những mục tiêu đó.”
Daniel R. Hart,
Cựu thẩm phán hạt Hennepin, Minnesota
“Mỗi một bạn trẻ, bất kể hoàn cảnh gia đình ra sao, đều cần
một thứ: đó là hy vọng. Dám Mơ Ước Để Trưởng Thành góp
nhặt những câu chyện đời có thật của những con người nổi
tiếng, thành đạt đến từ mọi tầng lớp và trải qua đủ mọi
nghịch cảnh, buộc họ phải chinh phục núi cao, vực sâu và cả
dòng đời chảy xiết mà không bỏ quên ước mơ hay khoanh tay
trước số mệnh… Tác giả đã thành công rực rỡ trong việc
mang hy vọng đến với cuộc sống của các bạn trẻ, thông qua
nhửng câu chuyện thành công.”
Tiến sĩ Donald Draayer,
Chánh thanh tra xuất sắc cấp Quốc gia của năm 1990,
Kiêm giáo viên, quản lý và tư vấn giáo dục trong 46
năm
“Trong Dám Mơ ước Để Trưởng Thành, bạn sẽ tìm thấy câu
chuyện đời của rất nhiều con người thuộc mọi tầng lớp xã hội,
những người trở thành anh hùng bởi họ luôn mang trong
mình niềm tin mạnh mẽ đồng thời nỗ lực phấn đấu để hiện
thực hóa ước mơ. Chúng tôi khuyến khích các bạn trẻ hãy
dành thời gian để đọc quyển sách này để thực hiện được cả
hai điều ấy. Bằng việc tin vào chính mình và vươn đến những
gì cao cả tốt đẹp, bạn không chỉ đạt được mục tiêu đề ra, mà
còn trở thành mẫu người mà mình khao khát - một cá nhân
xứng đáng được gia đình, bè bạn và đồng sự tôn vinh.”
_Sara 0'Meara,
Chủ tịch Hội đổng quản trị kiêm CEO và Yvonne
Fedderson,
Đại diện tổ chức Childhelp USA
“Dám Mơ ước Để Trưởng Thành là quyển sách dành cho thế
hệ trẻ mà tôi dám mơ ước về họ. Thay vì toàn đề cập đến thể
thao, giải trí và lối sống trọng tiền tài, danh vọng như những
gì giới truyền thông đang ngày đêm nhồi nhét, tác phẩm này
viết về những lựa chọn trong cuộc sống và quá trình nỗ lực
tìm kiếm thành công của những con người nổi tiếng vốn phải
đương đầu với vô vàn khó khăn… Tôi hy vọng quyển sách này
sẽ trở nên phổ biến trong các trường cấp hai.”
_Benjamin s. Carson Sr.,
Bác sĩ chuyên khoa kiêm Trưởng khoa Giải phẫu thần
kinh nhi,
Bệnh viện Johns Hopkins
Người hùng là những con người bình thường làm nên những
điều phi thường trong cuộc sống, và quyển sách này tôn vinh
tất cả những vị anh hùng của chúng ta - từ quá khứ đến hiện
tại và cả tưong lai.
Mối nguy lớn nhất đối với đa số chúng ta không phải là đặt
mục tiêu quá cao, để rồi thất bại, mà chính việc ta đặt mục
tiêu quá dễ dàng, rồi đạt dược nó.
Michelangelo
(1475 - 1564)
lời nhắn nhủ
dành cho người lớn
___________________________________________
Có quá nhiều bạn trẻ thời nay thiếu những người hùng
để noi theo, không biết đặt mục tiêu và sống không định
hướng.
Quyển sách này viết ra nhằm đánh thức những ước mơ
lãng quên và khơi dậy những người hùng trong lòng các bạn
trẻ. Người hùng ở đây không phải là những siêu nhân không
bao giờ gặp rắc rối, mà chính là những con người bình thường
mang trong mình một ước mơ và quyết tâm theo đuổi ước mơ
ấy đến cùng, nỗ lực thật nhiều để vượt qua mọi trở ngại và
cuối cùng đạt được ước mơ ấy.
Quyển sách này dành tặng cho các bạn trẻ trên khắp thế giới
nhằm khuyến khích họ Dám Mơ Ước, theo đuổi nó đến cùng
và đừng bao giờ bỏ cuộc.
lời nhắn nhủ
dành cho các độc giả trẻ
_________________________________________________
Khi bạn đọc phần tóm tắt tiểu sử của các nhân vật sau
đây, bạn sẽ nhận ra một điều: họ không phải là những con
người xuất chúng toàn diện, nhưng rõ ràng mỗi người đều có
những tài năng và thế mạnh riêng hết sức đặc biệt. Và một
điều nữa là giữa các tiểu sử ấy có vài điểm tương đồng —
những điểm chung mà bạn sẽ thấy lặp đi lặp lại trong từng
câu chuyện.
Họ đều dũng cảm như nhau. Một số mạnh mẽ về thể
chất, số khác về đạo đức hoặc mang một tinh thần thép,
nhưng tất thảy đều sẵn sàng đón nhận rủi ro và can đảm bảo
vệ chính kiến của mình, dù đôi khi điều đó đồng nghĩa với
việc phải một mình chiến đấu trên mặt trận cuộc sống.
Tất cả họ đều kiên trì theo đuổi ước mơ. Họ rất bền chí,
kiên cường, cả cương trực nữa, để vượt qua mọi trắc trở
những phút nản lòng và không bao giờ từ bỏ. Họ là những
vận động viên chạy đua đường trường bền sức chứ không
phải những tay đua chạy nước rút, và họ bám trụ đường đua
đến cùng.
Ai cũng có những trở ngại phải vượt qua. Một số gặp khó
khăn về thể chất (như bị tật nguyền, sức khỏe yếu hoặc vẻ
ngoài không mấy ưa nhìn), một số gặp khó khăn về tâm lý
(vô cùng rụt rè, nhút nhát, hoặc luôn cảm thấy tự ti), số khác
gặp trở ngại về mặt tài chính (như gánh nặng trách nhiệm, sự
kỳ vọng đi kèm với cuộc sống giàu sang, hoặc là cực kỳ
nghèo khó), hoặc những trường hợp gặp khó khăn trong đời
sống xã hội (bị kỳ thị chủng tộc hoặc không được học hành).
Họ cố gắng vượt lên hoàn cảnh bằng cách làm việc chăm chỉ,
tin vào bản thân, và một số còn biến nhược điểm thành ưu
điểm bằng cách thay đổi thái độ sống.
Và cuối cùng, tất cả đều mang trong mình những khát
khao lớn. Cảm giác hài lòng mãn nguyện không xuất phát từ
thành công cá nhân hay từ cuộc sống đầy đủ, mà chính từ-sứ
mệnh muốn cải thiện cuộc sống cho những người chung
quanh họ.
ABRAHAM LINCOLN
“Đồ chây lười”
Abraham Lincoln sinh ra trong một căn nhà gỗ nhỏ tại
Ken- tucky, Hoa Kỳ, một trong những bang dành cho nô lệ,
vào năm 1809 và được đặt theo tên của ông nội.
Năm Abraham lên 7 tuổi, gia đình ông chuyển đến
Indiana, vùng đất của sự tự do và chế độ nô lệ không được
chấp nhận ở nơi này.
Tại đây, ông và chị gái Sally hàng ngày phải lội bộ hơn
14 cây số đường rừng để đến lớp; con đường có nhiều động
vật hoang dã như gấu, hươu, nai, gấu trúc Bắc Mỹ và cả mèo
rừng sinh sống.
Cha ông cảm thấy con mình ngày ngày lặn lội hơn 14
cây số đến trường chỉ để ngồi cùng mấy đứa trẻ khác và học
cả ngày thật phí thời gian, nhưng mẹ ông, Nancy, lại khuyến
khích việc học của con. Bà dặn ông phải cố gắng học càng
nhiều càng tốt.
Năm Abraham được 9 tuổi, mẹ ông qua đời. Cả gia đình
ông chìm trong không khí ảm đạm thê lương, cho đến khi cha
ông tái hôn với một người phụ nữ khác một năm sau đó. Ông
thỉnh thoảng nhắc đến mẹ kế Sarah như một người bạn tốt
nhất mà ông từng có với tên gọi trìu mến “người mẹ thiên
thần”.
Ông thường hỏi cha nhiều câu khiến người nổi đóa, và
rất nhiều đêm ông thức trắng, nằm vắt tay lên trán nghĩ về
những từ phức tạp đối với một đứa trẻ như “độc lập” và “định
mệnh”.
Lớn thêm một chút, vẻ ngoài của ông không được ưa
nhìn cho lắm, thậm chí một số người còn thẳng thừng chê
ông xấu xí, thô kệch. Trong mắt mọi người, ông cao lênh
khênh, kỳ khôi, dị hợm và “chẳng khác gì bộ xương di động”.
Ông đi đứng chậm chạp, khác người, hai vai thõng xuống
và với chiều cao quá khổ, mỗi khi bước qua cửa, ông đều phải
cúi đầu thấp xuống.
Khác hẳn bạn bè đồng trang lứa, ông chẳng ham chơi
bài, uống rượu hay vác súng đi săn. Năm 11 tuổi, ông có bắn
chết một con gà gô chạy rông trên đồng cỏ, và từ đó về sau,
ông không tham gia săn bắn gì nữa.
Bạn bè và một số họ hàng cho rằng ông “thuộc hàng lập
dị” bởi cả ngày ông chỉ biết vùi đầu đọc sách, thậm chí từng
đi bộ hơn 30 cây số chỉ để mượn một quyển sách mà ông
muốn đọc.
Mẹ kế Sarah lúc nào cũng khuyến khích niềm đam mê
đọc sách và tinh thần hiếu học của ông, trong khi cha ông
cho rằng việc mê chữ nghĩa sách,vở là biểu hiện của kẻ lười
biếng.
Dù cha ông suốt ngày càm ràm chuyện đọc sách là “phí
phạm thời giờ”, Abraham vẫn yêu sách hơn bất kỳ thứ gì khác
trên đời. Ông đọc tất cả những quyển sách nào ông tìm được
trong vòng bán kính 80 cây số quanh nhà.
Ông hay chia sẻ rằng mình tiếp thu kiến thức chậm,
nhưng bộ não của ông như một miếng thép, “rất khó khắc
chữ lên nó, nhưng một khi đã khắc thành công, chữ nghĩa
chẳng thể nào bay mất”.
Người hàng xóm thuê ông làm việc than phiền, “thằng
này cả ngày đọc sách và suy tư” và người này xem ông là “đồ
lười chảy thây”.
Chưa bao giờ ông hòa hợp được với cha mình, nhưng ông
lại dành tình thương yêu đặc biệt cho mẹ kế, bởi bà hiểu ông
ham học đến nhường nào và luôn động viên ông đọc càng
nhiều càng tốt.
Thật ra, ông chẳng được đến lớp nhiều (tổng cộng chưa
đầy một năm đi học), nhưng ngọn lửa đam mê học hỏi trong
ông thì không thể nào dập tắt được, ông luôn nói rằng những
gì ông muốn biết đều nằm trong sách, và người bạn tốt nhất
của ông là “người trao cho tôi quyển sách tôi chưa được đọc
bao giờ”.
Dù ông từng là nhà vô địch chạy đua, nhảy cao và đấu
vật ở rất nhiều hạt, nhưng tình yêu to lớn nhất đời ông vẫn
dành cho sách và việc học.
Trưởng thành:
Năm 19 tuổi, 'Abraham Lincoln rời nhà đến Illinois để
phụ việc trên một chiếc xà lan chở hàng xuôi theo dòng
Mississippi đến New Orleans. Tại đây, ông chứng kiến một
cuộc đấu giá nô lệ.
Cảnh những người da đen ở miền Nam bị đối xử không
khác gì đồ vật đã ám ảnh ông mãi về sau. ông thề sẽ đấu
tranh chống lại chế độ nô lệ bằng mọi giá.
Năm 22 tuổi, ông trở về Illinois làm chân bán hàng cho
một cửa tiệm, nhưng không may tiệm thua lỗ phải đóng cửa.
Thế là ông thử mở cửa hàng riêng nhưng cũng thất bại nốt.
Phải mất mấy năm trời ông mới trả hết nợ nần từ thương vụ
này.
Ngoài kinh nghiệm phụ việc trên tàu và trông cửa hàng,
ông còn làm thợ chặt gỗ, giám đốc bưu điện, giám định viên,
đội trưởng đội dân quân và tự học thêm ngành luật.
Đến năm 23 tuổi, ông tranh cử vào một vị trí thuộc cơ
quan lập pháp bang Illinois nhưng thất bại. Hai năm sau, ông
tái tranh cử và lần này, ông được ngồi vào chiếc ghế đó từ
năm 1834 đến năm 1841.
Người đời thường nói, trong vai trò luật sư, ông tuy nổi
tiếng nhưng không có tài, còn trong vai trò chính trị gia, ông
có tài nhưng không phải lúc nào cũng nổi tiếng.
Ông được bầu làm thành viên Hạ nghị viện Hoa Kỳ năm
1846 trong một nhiệm kỳ. Năm 1860, ông trở thành tổng
thống thứ 16 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.
Sau lần bầu cử này, 7 bang phía Nam tách ra khỏi liên
minh và thành lập nhà nước tự trị. Họ tự gọi mình là Liẻn
minh miền Nam Hoa Kỳ và bầu Jefferson Davis lên làm tổng
thống. Nước Mỹ bị chia hai.
Khi phe ly khai nổ phát súng khai chiến đầu tiên tại đồn
Sumter vào ngày 12 tháng 4 năm 1861, cuộc nội chiến chính
thức bắt đầu. Khi ấy có tổng cộng 11 bang gia nhập Liên
minh miền Nam - tất cả đều là những bang muốn giữ lại chế
độ nô lệ.
Tình trạng nô lệ là nguyên nhân gây ra cuộc nội chiến,
và Abraham biết rõ đất nước này không bao giờ có hòa bình
nếu cứ duy trì một nửa tự do, một nửa nô lệ. Thế nên, năm
1863, ông ký bản tuyên ngôn giải phóng nô lệ, trong đó
tuyên bố tất cả nô lệ thuộc các bang miền Nam nổi dậy đều
được trả tự do. Đối với ông, đó là hành động quan trọng nhất
trong suốt nhiệm kỳ làm tổng thống của mình.
Ông còn là một nhà văn và nhà hùng biện tài năng. Bài
diễn văn của ông tại thị trấn Gettysburg vào năm 1863 vẫn
được xem là một trong những bài phát biểu vĩ đại nhất trong
lịch sử.
Nếu không có sự sáng suốt và tài lãnh đạo cứng rắn của
ông trong suốt thời kỳ nội chiến, hẳn nước Mỹ vẫn còn chịu
cảnh chia cắt đến ngày hôm nay. Ông là hiện thân của tinh
thần tự do, dân chủ bất diệt và ông đã chứng minh cho cả thế
giới thấy “chính phủ của dân, do dân và vì dân” sẽ vĩnh hằng.
Ông tái đắc cử tổng thống Hoa Kỳ vào năm 1864 nhưng
không lâu sau, ông bị John Wilkes Booth, một nam diễn viên
bị loạn trí, bắn chết vào ngày 14 tháng 4 năm 1865 - chỉ 5
ngày sau khi Đại tướng Lee tuyên bố đầu hàng tại thành phố
Appomattox, bang Virginia, kết thúc cuộc nội chiến.
Ngày nay, Abraham vẫn được xem là một trong những vị
tổng thống vĩ đại nhất. Dù ông đã qua đời hơn một thế kỷ,
nhưng tài lãnh đạo và lòng quả cảm của ông vẫn mãi là tấm
gương của biết bao nhiêu người trên thế giới.
“Một căn nhà bị chia làm đôi không thể nào đứng
vững.”
AbrahamLincoln (1809 1865)
THOMAS ALVA EDISON
“Thứ đầu óc không bình thường”
Tuổi thơ:
Thomas Alva Edison sinh năm 1847 tại thành phố Milan,
bang Ohio, Hoa Kỳ. Ngay từ khi còn là một cậu bé, tính tò mò
đã khiến ông vướng phải không biết bao nhiêu là rắc rối.
Lúc nào ông cũng hỏi “Tại sao?” Mới lên 3 tuổi, ông bị
ngã vào chiếc máy hút lúa và suýt chết ngạt trong đó vì ông
muốn biết cỗ máy hoạt động ra sao. Năm ông 4 tuổi, cha ông
phát hiện con trai mình ngồi chồm hổm ấp mấy cái trứng vịt
trong chuồng gia súc lạnh ngắt, vì ông muốn xem liệu mình
có thay vịt mẹ ấp cho trứng nở được không.
Ông đến lớp chẳng được bao nhiêu vì các giáo viên cho
rằng việc ông hỏi suốt ngày là do đầu óc ông ngu dốt. Vậy
nên, năm ông lên bảy tuổi, mẹ ông vốn cũng là một giáo viên
quyết định, cho con nghỉ học ở trường và dạy con học tại nhà.
Mấy người hàng xóm nghĩ đứa bé trai kỳ dị với thân hình
nhỏ thó, cái đầu to quá mức bình thường cùng những câu hỏi
không bao giờ dứt ấy hẳn là đồ “tưng tửng”, thậm chí một
bác sĩ trong vùng còn e ngại rằng cậu bé “có vấn đề về trí
não” cũng bởi cái đầu to quá khổ kia.
Ông mê đọc sách vô cùng. Đặc biệt, sách viết về hóa học
là loại sách khoái khẩu nhất của ông, nhưng ông đọc thì ít,
thực hành thì nhiều, ông thử rất nhiều thí nghiệm được mô tả
trong sách để chứng minh với bản thân rằng những gì sách
viết là thật.
Khoảng 10 tuổi, ông tự lập ra phòng thí nghiệm riêng
trong tầng hầm dưới nhà, và trong một lần thí nghiệm, ông
làm lửa cháy đùng đùng và suýt thổi bay ông ra khỏi căn
hầm.
Đến năm 12 tuổi, để kiếm tiền mua hóa chất làm thí
nghiệm, ông mang kẹo và báo đi bán ở trạm xe lửa gần nhà,
và tranh thủ thời gian rảnh ở nhà ga để làm thí nghiệm.
Ông bị buộc phải tạm chấm dứt mấy trò thí nghiệm của
mình khi một mảnh phốt-pho bắt lửa trong căn phòng thí
nghiệm tạm bợ ông bày ra ở một toa xe chở hành lý. Viên
quản lý tống cổ ông cùng mấy thứ vật dụng thí nghiệm khi xe
lửa dừng ở trạm kế tiếp.
Hầu như lúc nào ông cũng thí nghiệm và thí nghiệm. Có
lần, ông còn cho đứa bạn uống 3 liều bột thuốc tẩy nhẹ với
hy vọng bụng nó sẽ giải phóng ra đủ khí để bay lên. Kết quả
là đứa bạn đau bụng quằn quại, còn ông thì ăn một trận đòn
nhớ đời.
Năm 16 tuổi, ông có cơ hội được học làm nhân viên đánh
điện tín, sau đó ông quay sang mê ngành điện không kém gì
ngành hóa trước đây.
Và bởi trong đầu ông lúc nào cũng đầy ý tưởng thay vì
chú tâm vào công việc phải làm, ông trở thành một nhản viên
điện tín cực kỳ chểnh mảng.
Chỉ sau một năm làm việc, ông bị sa thải vì cả ngày chỉ
có đọc sách, thí nghiệm rồi ngủ gục.
Trong giới nhân viên điện tín, ông nổi tiếng là “đồ gàn
dở” vì dành quá nhiều thời gian cho chuyện đọc và thí
nghiệm.
Các đồng nghiệp suốt ngày châm chọc, cười cợt vẻ ngoài
xòang xĩnh, đầu tóc rối bù của ông. sếp ông thì mất hết kiên
nhẫn với một nhân viên như ông, “một kẻ thiếu thực tế, đầu
óc trên mây và chắc cả đời chẳng làm nên trò, trống gì”.
Trưởng thành:
Năm 21 tuổi, Edison không thí nghiệm nữa mà chuyển
sang phát minh sản phẩm toàn thời gian. Có quá nhiều sáng
kiến mà ông biết mình phải nỗ lực thật nhiều để làm ra mọi
thứ mình muốn.
Khi thị trường cho những phát minh của ông phát triển,
ông nhận ra mình cần nhiều trang thiết bị cỡ lớn. Thế là năm
1876, ông chuyển đến Menlo Park, bang New Jersey, tại đây,
ông lập nên trung tâm nghiên cứu của riêng mình. Ông mời
tất cả những thợ thủ công và nhà khoa học giỏi nhất ông tìm
được, đưa họ vào làm nơi ông gọi là “nhà máy của những ý
tưởng”.
Một năm sau, phát minh vĩ đại đầu tiên được cả thế giới
biết đến - chiếc máy hát đĩa - đã ra đời. Với phát minh này,
thoắt cái ông trở thành người nổi tiếng, nhưng tất cả chỉ mới
bắt đầu.
Năm 1879, sau nhiều tháng miệt mài, ông cho ra đời
một phát minh vĩ đại khác - bóng đèn điện - sản phẩm làm
thay đổi cách sống của nhân loại mãi mãi.
Cả đời ông là những câu hỏi “tại sao” không bao giờ dứt.
Và việc tiếp theo ông làm là tìm hiểu xem còn cách nào khác
hơn, hay hơn để làm mọi thứ hay không.
Sự kiên nhẫn trong ông là vô hạn, và hiếm khi nào ông
nản lòng, ông tiếp cận vấn đề với thái độ tích cực và không
bao giờ bỏ cuộc cho đến khi nào giải quyết được mới thôi. Mỗi
ngày ông làm việc 18 tiếng đồng hồ là chuyện bình thường,
và trong cả cuộc đời mình, ông sở hữu hơn 1.000 bằng sáng
chế khác nhau cho các phát minh của mình.
Chính nhờ tính tò mò bẩm sinh và nỗ lực làm việc không
mệt mỏi của ông mà thế giới chúng ta đang sống ngày nay
tốt đẹp hơn trước rất nhiều.
Chưa từng có ai mang các khám phá khoa học vào đời
sống nhiều như ông với máy hát đĩa (phát minh theo ông là vĩ
đại nhất), bóng đèn điện, máy đánh chữ, máy ghi âm, máy
phát điện, máy quay phim và nhiều sản phẩm khác. Ông còn
cải tiến một số phát minh đã có từ trước như điện thoại và
máy điện tín.
Chưa bao giờ ông để cho những “thất bại” (theo cách
người đời gọi) làm ông nhụt chí; thay vào đó, ông xem chúng
như những nấc thang cần thiết trong cuộc đời làm khoa học
của mình.
Ông tự dàn dựng và thực hiện bộ phim câm đầu tay,
ngoài ra ông tạo ra “hình ảnh biết nói” bằng cách kết hợp 2
phát minh của mình: máy hát đĩa và máy quay phim. Với 2
phát minh này, có lẽ ông là nguời đóng góp to lớn nhất vào
ngành công nghiệp giải trí của thế giới hơn bất kỳ ai.
Dù sau này đã trở thành một triệu phú, ông vẫn khiêm
tốn và luôn cảm thấy hạnh phúc nhất vào những lúc được làm
việc trong phòng thí nghiệm để phát minh ra sản phẩm mới.
Ông đuợc Quốc hội Hoa Kỳ truy tặng Huy chuơng Danh
dự vào năm 1928, và vào ngày ông mất ở tuổi 84, Tổng
thống Herbert Hoover đã yêu cầu tất cả công dân Mỹ tắt bóng
đèn điện trong vòng một giờ để tưởng nhớ tài năng sáng tạo
khôn cùng của Thomas Edison.
Ông là một trong những nhà sáng chế vĩ đại nhất mà thế
giới từng biết. Ông đã gặt hái được nhiều hơn là cải thiện
cuộc sống của một người bình thường. Bạn thấy đấy, chính
những phát minh vĩ đại của ông đã giúp cho cuộc sống hàng
ngày của chúng ta dễ chịu và thoải mái hơn rất nhiều - điều
mà không phải nhà khoa học nào trong lịch sử cũng làm
được.
“Thiên tài chỉ có 1% bẩm sinh, còn lại 99% là do cần
cù.”
Thomas Alva Edison (1847 1931
NELLIE BLY
Người tự nhận mình là “cô gái mồ côi đơn độc”
Cha bà, ông Michael Cochran, nổi tiếng là người cương
trực và tham vọng, tự mình vươn lên trong cuộc sống - từ
một thợ rèn bình thường, ông đã trở thành một địa chủ giàu
có thịnh vượng và một thẩm phán có tầm ảnh hưởng.
Rõ ràng, Eliàabeth thừa hưởng tố chất cương trực và ý
chí mạnh mẽ từ cha, cùng vẻ điệu đàng từ mẹ.
Tuổi thơ:
Elizabeth Jane Cochran sinh năm 1864 tại Cochran's
Mills, bang Pennsylvania, thành phố được đặt theo tên của
ngưòi công dân lỗi lạc nhất vùng, cha bà.
Elizabeth được làm phép rửa tội trong chiếc váy màu
hồng, và trong khi các bé gái khác mặc những bộ váy nâu
sồng, xám xịt chán ngắt, thì mẹ của bà trau chuốt cho con
gái bộ váy hồng sặc sỡ.
Hồng luôn là màu yêu thích của Elizabeth; từ bé bà đã
mặc màu hồng thường xuyên đến nỗi “Hồng” trở thành biệt
danh của bà.
Cha bà luôn khuyến khích bà đọc sách, thế nên từ những
năm tháng đầu đời bà đã đặc biệt yêu thích văn chương và
sáng tác truyện.
Nhưng khi Elizabeth lên 6 tuổi, cuộc đời bà xảy ra biến
động dữ dội. Cha bà qua đời sau một cơn bạo bệnh ập đến
bất ngờ khiến toàn thân ông bị liệt.
Dù từng là một công dân tiêu biểu có nhiều đóng góp to
lớn cho cộng đồng, nhưng khi qua đời, cha bà chết đi mà
không kịp để lại di chúc. Không sở hữu giấy tờ hợp pháp
trong tay, mẹ Elizabeth bị buộc phải mang toàn bộ tài sản của
chồng ra đấu giá và toàn bộ gia đình bà bị bắt chuyển sang
sống trong một căn hộ chật chội hơn nhiều.
Với hy vọng 5 đứa con của mình có một cuộc sống sung
túc, mẹ Elizabeth tái hôn. Nhưng bất hạnh thay, người cha
dượng có thói hành hạ ngược đãi con riêng của vợ, và vào
năm 14 tuổi, Elizabeth phải ra tòa làm chứng để giúp mẹ
được chấp thuận ly hôn.
Sau vụ việc đó, Elizabeth cùng gia đình chuyển đến sống
tại một thành phố xô bồ, tăm tối vùng Pittsburgh, với hy vọng
sẽ dễ kiếm việc làm hơn ở nơi đây.
Trải qua những năm tháng chứng kiến cuộc hôn nhân
thứ hai đầy khốn khổ của mẹ, Elizabeth nhận ra một điều
rằng bà không muốn bị lệ thuộc vào bất kỳ ai, trừ chính bản
thân mình, thế nên trong khi các bạn gái đồng trang lứa chọn
con đường hôn nhân, bà quyết định ưu tiên sự nghiệp.
Có điều, để kiếm được việc làm không dễ. Các anh em
trai của bà nhanh chóng kiếm được những chân làm việc
nhàn hạ chốn văn phòng, còn công việc dành cho cánh phụ
nữ thời bấy giờ toàn là trong những nhà máy, xưởng chế biến
bóc lột sức lao động công nhân tàn tệ.
Suốt 4 năm ròng rã, bà nằm trong số những phụ nữ
không thể tìm nổi cho mình một công việc ổn định với mức
tiền công đàng hoàng tử tế.
Thế rồi, vào tháng Giêng năm 1885, bà đọc được một:
bài viết trên tờ Pittsburgh Dispatch có nhan đề “Những Thế
Mạnh Của Nữ Giới”. Tác giả của bài báo chính là Erasmus
Wilson, nhà báo tiếng tăm nhất vùng Pittsburgh. Ông cho
rằng bất kỳ phụ nữ nào có việc làm đều là “quái nhân” bởi
phụ nữ sinh ra là để ở nhà chăm lo gia đình và nuôi dạy con
cái.
Elizabeth vô cùng tức giận đến nỗi bà gửi một bức thư
chống đối nặc danh đến George Madden, chủ bút tờ Dispatch,
trong đó miêu tả chi tiết hoàn cảnh khó khăn của rất nhiều
phụ nữ trẻ đang phải làm việc quần quật để sống sót - ở xứ
sở Pittsburgh cay nghiệt.
Bài báo đó đã thay đổi cuộc đời bà mãi mãi!
Trưởng thành:
George Madden cảm thấy cực kỳ ấn tượng với bức thư ký
tên “Cô gái mồ côi đơn độc” này. Ông cho đăng vài dòng trên
số Chủ Nhật kêu gọi tác giả tiết lộ danh tính.
Ngày hôm sau, Elizabeth nhận công việc đầu tiên của
mình: trở thành một nhà báo. Bản chất công việc đòi hỏi bà
phải chọn bút danh, bởi trong những ngày ấy, người ta không
chấp nhận chuyện phụ nữ viết báo và công khai tên tuổi
trước công chúng.
Sau nhiều gợi ý từ những nhân viên phòng biên tập, ông
Madden quyết định chọn tên Nellie Bly cho bà, cũng là tên
nhân vật trong bài hát “Nellie Bly” do Stephen Foster sáng
tác 35 năm về trước.
Nellie tập trung viết về những bất công trong xã hội và
bà cũng là người khơi mào cho công tác điều tra báo chí. Bà
đặc biệt xuất sắc trong nhiệm vụ nhập vai để tác nghiệp, giả
làm một nữ công nhân nghèo khổ nhằm phơi bày mức độ tàn
nhẫn và điều kiện làm việc đáng sợ trong các nhà xưởng, nơi
biết bao phụ nữ đang cặm cụi làm việc ngày đêm.
Khi các chủ nhà máy dọa sẽ rút quảng cáo khỏi tờ
Dispatch sau những bài viết của bà, Nellie thuyết phục vị chủ
bút chuyển bà sang công tác ở Mexico. Tại Mexico, bà tiếp tục
viết bài về tình trạng nghèo đói và tham nhũng chính trị, dẫn
đến hệ lụy là bà bị chính phủ nước này trục xuất.
Thay vì trở về Pittsburgh, bà đến thành phố New York với
hy vọng sẽ tìm được việc ở những tòa soạn lớn. Nhưng 4
tháng trôi qua, bà vẫn thất nghiệp và không một xu dính túi.
Cuối cùng, bà cũng liên hệ được với văn phòng của tờ báo lớn
nhất New York lúc bấy giờ, tờ New York World. Sự xuất hiện
của bà thật đúng nơi đúng lúc, bởi khi ấy tờ báo đang tìm
một phóng viên điều tra đủ thông minh và can đảm để thâm
nhập vào nhà thương điên dành cho nữ giới Women's Lunatic
Asylum tại Blackwell's Island nhằm làm sáng tỏ tin đồn nơi
này ngược đãi và quấy rối bệnh nhân.
Sau này bà mô tả nhà thương điên này là “bẫy người” và
chính chuyến công tác liều lĩnh, táo bạo ấy đã không chỉ đưa
bà lên hàng phóng viên tên tuổi lẫy lừng trong làng báo New
York, mà còn kéo theo công cuộc cải thiện điều kiện chăm sóc
bệnh nhân tâm thần tại New York.
Mùa thu năm 1888, khi bà biết tờ World có ý định gửi
một phóng viên nam đi vòng quanh thế giới trong vòng 80
ngày, bà dọa sẽ thực hiện điều tương tự trong khoảng thời
gian ngắn hơn cho một tờ báo khác nếu World không chọn bà
thay cho người đàn ông kia.
Chuyến đi đã biến bà thành nhân vật nổi tiếng khi tờ World
cập nhật tình hình chuyến đi của bà mỗi ngày trên mặt báo.
Khi cuộc hành trình kết thúc với số ngày kỷ lục: 72 ngày, bà
trở về trong sự đón chào nồng nhiệt của đám đông.
Trong cả cuộc đời làm báo của mình, bà luôn nỗ lực
chống lại cái xấu. Từ chỗ vào vai bệnh nhân tâm thần để
thâm nhập vào nhà thương điên nhằm phơi bày điều kiện
nuôi bệnh vô nhân đạo ở nơi này, đến việc trở thành một
trong số phóng viên chiến trường đầu tiên tường thuật từ tiền
tuyến của Thế chiến thứ nhất, bà tranh đấu để vạch mặt bất
công và tham nhũng, góp phần tái lập vai trò của phụ nữ vốn
bị bó buộc suốt hàng thế kỷ tại Mỹ.
Khi bà qua đời năm 1922 sau trận bệnh viêm phổi, tất cả
những tờ báo tại New York đồng loạt đăng cáo phó về cuộc
đời bà một cách trân trọng.
“Một khi ta nỗ lực vì những lý do chính đáng… việc gì
cũng thành công.”
_ NellieBly (1864 1922)
ALBERT EINSTEIN
“Đứa chậm tiêu”
Tuổi thơ:
Albert Einstein sinh năm 1879 tại Ulm, nước Đức, và ông
chậm nói đến mức cha mẹ tưởng ống bị thiểu năng thể nhẹ.
Dù gia đình là người Do Thái nhưng thời tiểu học, ông
theo học ở trường dòng và không phải là một học sinh giỏi
giang. Các giáo viên nhận xét ông “chẳng giống ai” vì ông hỏi
quá nhiều, phát biểu thì chậm chạp, thêm tật bẽn lẽn nên
ngay cả bạn học cùng lớp cũng hghĩ ông là đứa “chậm tiêu”.
Vị hiệu trưởng còn nói với gia đình ông rằng mai này cậu
bé học ngành nào cũng không quan trọng, bởi cậu sẽ chẳng
làm nên trò trống gì.
Ông hay bẽn lẽn và mơ mộng, bạn bè thì chẳng chơi
được với ai, thế nên ông cứ lủi thủi một mình hoặc ngồi nghe
mẹ chơi đàn dương cầm hàng giờ đồng hồ.
Trong khi bạn bè đùa nghịch trên sân thì ông đứng riêng
một góc, chìm trong suy nghĩ và mơ mộng. Đối vối ông, niềm
vui là sáng tác ra những bài hát ngắn trên đàn dương cầm,
rồi ngân nga trong miệng những khi không có chiếc đàn bên
cạnh.
Nhiều giáo viên thời tiểu học cho rằng ông bị ”đần”.
Chính tả là môn không nuốt nổi đối với ông, và bởi ông không
thích học thuộc lòng nên ông học hành chểnh mảng, điểm số
thì thấp lè tè.
Năm 12 tuổi, ông bắt đầu mê mẩn Đại số, môn học về
sau thay đổi toàn bộ cuộc đời ông bởi nó cho ông thấy người
ta có thể làm được những gì chỉ bằng “những luồng suy nghĩ”.
Và rồi, ông tìm đọc 'thật nhiều sách, tự học toán vi phân
và tích phân. Nhưng ông vẫn không thích đến trường. Năm
15 tuổi, ông bị trường cấp ba buộc thôi học vì kết quả học
hành không tiến triển của ông là “tấm gương xấu” cho các
học sinh khác.
Sau khi rời khỏi trường, ông cùng gia đình chuyển đến Ý
và bỏ quốc tịch Đức. Ông không có quốc tịch cho đến khi hình
thức trở thành công dân Thụy Sĩ vào năm 1901.
Ông trượt trong lần thi đầu tiên vào Viện Khoa học Công
nghệ Liên bang Thụy Sĩ tại thành phố Zurich. Kết quả bài thi
Toán và Vật lý của ông rất tốt, nhưng lại làm quá tệ môn Sinh
học, Hóa học và tiếng Pháp.
Khi được Viện Khoa học Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ
nhận vào, kết quả học tập của ông cũng chẳng khá khẩm gì
hơn bởi ông dành phần lớn thời gian và sức lực vào những gì
mình thích, chứ không theo giáo trình do viện đặt ra. Ông
không quan tâm đến phương pháp học kiểu đó, và ông rất
ghét phải thường xuyên đến lớp rồi làm bài kiểm tra.
Chính cách học hành kiểu này đã khiến ông không có
được việc làm sau khi tốt nghiệp. Ông là sinh viên duy nhất
tốt nghiệp mà không được viện mời làm trợ giảng.
Trưởng thành:
Sau khi tốt nghiệp vào năm 1900, Einstein tìm việc rất
khó khăn, nên tạm thời ông đi dạy. Đến năm 1902, ông được
Cục Sở hữu Trí tuệ Thụy Sĩ nhận vào làm với công này...
 





