Sách nói Chuyện của Bắp Ăn Mơ Và Xóm Đồi Rơm - Cao Khải An
Cuộc Đời Kỳ Lạ Của Nikola Tesla - Nikola Tesla & Nguyễn Hưởng (dịch) & Nguyễn Hạo Nhiên (dịch)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:10' 15-03-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:10' 15-03-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
NIKOLA TESLA
Nguyễn Hưởng & Nguyễn Hạo Nhiên dịch
★—
—
CUỘC ĐỜI KÌ LẠ
CỦA
NIKOLA TESLA
• THE STRANGE LIFE OF NIKOLA TESLA •
ECOBLADER & NXB KINH TẾ TP.HCM
ebook©vctvegroup | 31-03-2021
Tác Giả
Nikola Tesla (1856-1943), nhà khoa học kiệt xuất
người Mỹ gốc Serbia. Trong cuộc đời mình, Tesla đã có
đến khoảng 300 bằng phát minh, trong đó, đóng góp quan
trọng nhất cho nhân loại của Tesla là việc góp phần đưa
dòng điện xoay chiều vào đời sống.
Tuy cuộc đời Tesla không bằng phẳng, phải chịu nhiều đợt bệnh thập tử
nhất sinh, bị cộng sự chơi xấu, và cuối đời phải sống trong thiếu thốn và
mất đi không một người thân thích bên cạnh, nhưng ông đã để lại một di
sản khổng lồ cho nhân loại. Để tri ân, giới khoa học đã đặt tên đơn vị đo
cường độ cảm ứng từ là tesla.
Lời Nói Đầu
Quyển sách các bạn đang xem là câu chuyện về cuộc đời đầy thăng
trầm nhưng vô cùng ý nghĩa của Nikola Tesla, một trong những nhà phát
minh vĩ đại nhất của nhân loại, người đã góp phần thay đổi hoàn toàn bộ
mặt thế giới Thế kỷ XX-được viết bởi chính Tesla.
Được mệnh danh là “nhà khoa học điên” của giới vật lý, Tesla là người
đi tiên phong đưa kỹ thuật điện, điện từ vào đời sống. Với cách tư duy kỳ
lạ của mình, ông đã có đến khoảng 300 bằng phát minh, tiêu biểu như động
cơ điện không đồng bộ hay lõi Tesla. Rất nhiều phát minh của Tesla đang
được ứng dụng trong các thiết bị điện xung quanh ta ngày nay.
Thật không dễ để hiểu thấu hết những gì đang diễn ra trong đầu Tesla,
một thiên tài với trí nhớ hình ảnh, biết 8 thứ tiếng* có tầm nhìn vượt thời
đại. Những gì ông đã viết trong quyển sách này có thể kỳ lạ và khó tin,
nhưng hãy nhớ rằng, người ta đã mất gần một thế kỷ để biết những gì
Tesla đề xuất là chính xác và khả thi!
Larry Page - đồng sáng lập Google – đã được truyền cảm hứng sau khi
đọc tự truyện của Tesla vào năm 12 tuổi.* Hy vọng quý bạn đọc có thể nhìn
ra được điều gì đó mới mẻ trong những câu chữ của Tesla, bởi đó có thể là
những hiểu biết giúp ta thay đổi cả thế giới này.
Thành phố Hồ Chí Minh, 2016
Ecoblader
Chương 1
Thuở thiếu thời
Sự phát triển không ngừng của con người phụ thuộc sống còn vào các
phát minh. Nó là sản phẩm quan trọng nhất của bộ não sáng tạo. Mục đích
cuối cùng của việc phát minh là để trí tuệ làm chủ hoàn toàn thế giới vật
chất, khai thác các lực lượng thiên nhiên phục vụ nhu cầu của con người.
Các nhà phát minh phải thực hiện nhiệm vụ khó khăn ấy, nhưng lại thường
bị hiểu lầm và không được tưởng thưởng xứng đáng. Tuy nhiên, họ lại cảm
thấy được bù đắp trong quá trình luyện tập phát triển quyền uy của mình.
Họ biết rằng mình là một thành viên của một tầng lớp đặc biệt: Nếu không
có các nhà phát minh, nhân loại có lẽ đã tiêu tùng từ lâu trong cuộc đấu
tranh gay gắt chống lại các tác nhân bạo tàn của Mẹ Tự Nhiên.
Riêng tôi mà nói, tôi cũng đã hưởng quá nhiều niềm vui tinh tế như
vậy. Nhiều lắm, nhiều năm qua cuộc sống của tôi ít khi thiếu vắng niềm
vui. Tôi được ghi nhận là một trong những người làm việc tích cực nhất.
Nếu nói suy nghĩ là lao động thì có lẽ đúng vậy thật, bởi hầu như mỗi thời
khắc còn thức, tôi đều tập trung tư duy hết mình. Nhưng nếu xem lao động
là một hoạt động rõ ràng trong một thời gian nhất định theo một quy tắc
cứng nhắc, thì có lẽ tôi phải tự xếp mình vào danh sách những kẻ lười nhất
trong những kẻ lười.
Khi làm việc dưới sức ép, vì bắt buộc, ta luôn phải hy sinh một lượng
năng lượng sống. Tôi chưa bao giờ phải trả giá như vậy. Ngược lại, cuộc
sống của tôi ngày càng tràn đầy năng lượng trong quá trình tư duy. Trong
quá trình cố gắng liên kết và kể lại một cách trung thực chuyện đời mình,
dù miễn cưỡng thì tôi vẫn phải nói rằng những trải nghiệm thời trẻ chính là
những thứ đóng vai trò chủ chốt trong sự nghiệp của tôi sau này. Những nỗ
lực đầu tiên của con người khi còn nhỏ hoàn toàn mang tính bản năng, tạo
nên trí tưởng tượng sống động và không bị gò bó trong khuôn khổ. Khi lớn
lên, lý trí khẳng định địa vị của mình, dần dần ta trở nên hệ thống và tư duy
có kế hoạch hơn. Tuy vậy, những xung động ban đầu, dù không cho ngay
kết quả, lại chứa đựng những khoảnh khắc tuyệt vời nhất tạo nên định
mệnh cả cuộc đời. Thật vậy, bây giờ tôi thấy hơi tiếc: Nếu hồi đó tôi hiểu
và nuôi dưỡng trí tưởng tượng trẻ thơ thay vì cố gắng đàn áp nó, thì chắc
tôi đã gia tăng đáng kể đóng góp của mình cho nhân loại.
Dù là thế, nhưng cho đến tuổi trưởng thành tôi mới nhận ra mình là
một nhà phát minh. Điều này là do một số nguyên nhân. Trước tiên, tôi có
một người anh tài năng xuất chúng, một trong những hiện tượng tâm lý
hiếm hoi mà sinh học không thể giải thích được. Anh mất sớm khiến cha
mẹ tôi buồn lắm. Hồi đó, nhà tôi có một con ngựa do bạn thân của cha mẹ
tôi tặng. Con ngựa giống Ả Rập, đẹp tuyệt, khôn như người. Cả nhà cưng
nó lắm, vì có một dịp nó đã cứu sống cha tôi.
Lần đó, cha tôi được triệu tập vào một đêm đông để thực hiện nhiệm vụ
khẩn cấp. Khi băng qua núi, cha bị đàn sói bu lại. Con ngựa sợ hãi bỏ chạy,
quăng mạnh ông xuống đất. Nó chạy về đến nhà, máu me đầy người và
gần như kiệt sức. Thế nhưng, sau khi chuông báo động vang lên, ngay lập
tức nó lại lao đi quay lại chỗ cha tôi. Đoàn tìm kiếm chưa đi được bao xa
thì đã gặp cha. Lúc này, ông đã tỉnh và ngồi lại trên lưng ngựa. Ông không
biết rằng mình đã nằm vùi trong tuyết nhiều giờ.
Thế nhưng, chính con ngựa này đã làm anh Dane* bị thương rồi mất.
Tôi đã phải tận mắt chứng kiến cảnh tượng bi thảm đó. Mặc dù nhiều năm
đã trôi qua, mọi chuyện ngày hôm ấy vẫn rõ mồn một trong đầu tôi. Những
hồi ức về thành tựu của anh Dane khiến mọi thứ tôi làm trở nên mờ nhạt.
Mọi thành tựu của tôi không làm cha mẹ hãnh diện, mà trái lại, càng khiến
họ cảm thấy mất mát và buồn khổ hơn. Vì lý do đó, trong cả quãng đời
thơ ấu, tôi không hề tự tin chút nào.
Nhưng nói đi cũng phải nói lại, tôi cũng không phải là đần độn. Ít ra là
không đần trong những câu chuyện mà tôi vẫn còn nhớ về thuở nhỏ của
mình. Ngày nọ, khi tôi và mấy đứa bạn đang chơi trên đường thì mấy
người có chức có quyền đi ngang qua. Quý ông đáng kính nhất…một công
dân giàu có… cho mỗi đứa một đồng bạc. Đến chỗ tôi, ông ấy đột nhiên
dừng lại và ra lệnh, “Nhìn vào mắt ta đây.” Tôi gặp cái nhìn của ông, định
đưa tay ra nhận đồng bạc quý giá, thì mấy lời sau của ông làm tôi thất
vọng não nề: “Không, không được. Nhóc không được lấy tiền của ta. Nhóc
quá thông minh.”
Người ta cũng hay kể một câu chuyện vui về tôi. Chả là tôi có hai
người cô già mặt mày nhăn nheo. Một người còn có mấy cây răng chìa ra
như ngà voi. Mỗi khi cô ấy hôn là răng cỏ nó đâm vô má. Không gì làm tôi
ớn hơn là việc được những người họ hàng không mấy xinh đẹp này âu
yếm. Lần đó, khi đang được mẹ bồng trên tay, tôi bị hai cô hỏi ai đẹp hơn.
Sau khi chăm chú nghiên cứu, ngắm nghía khuôn mặt của họ, tôi trả lời một
cách đầy thông minh: Tôi chỉ vào một cô, bảo: “Cô này không xấu bằng cô
kia.”
Lại nói một chuyện khác. Ngay từ khi sinh ra tôi đã được định sau này
làm giáo sĩ. Ý nghĩ này ám tôi suốt. Tôi muốn trở thành kỹ sư, nhưng cha
tôi tính cứng nhắc lắm. Ông là con trai một sĩ quan phục vụ trong quân đội
của Napoleon Đại đế. Cha và bác tôi (một giáo sư toán học tại một trường
nổi tiếng) đã được giáo dục theo kiểu quân đội từ nhỏ. Nhưng thật lạ, sau
đó cha tôi lại chuyển qua làm giáo sĩ. Dù vậy, ông vẫn rất thành công với
nghề này. Cha tôi là một người rất uyên bác, một nhà triết học tự nhiên,
nhà thơ và nhà văn thực sự. Bài giảng của ông được đánh giá ngang ngửa
với tu sĩ nổi tiếng Abraham a-Sancta-Clara. Cha có một trí nhớ phi thường
và thường xuyên trích dẫn những đoạn rất dài từ các tác phẩm bằng nhiều
ngôn ngữ. Ông thường nói vui rằng nếu lỡ như có mất vài cuốn sách kinh
điển, ông vẫn có thể nhớ và viết lại dễ dàng. Phong cách viết của ông rất
được ngưỡng mộ. Ông viết ngắn gọn nhưng dí dỏm và đầy tính châm
biếm. Các nhận xét hài hước của ông luôn luôn độc đáo và đặc trưng.
Để minh họa, tôi sẽ kể vài chuyện. Trong số những người giúp việc, có
một người lé mắt tên là Mane, được thuê làm việc lặt vặt quanh trang trại.
Ngày nọ, ông ta chẻ củi. Khi ông vung rìu, cha tôi đứng gần đó và cảm
thấy không êm. Cha cảnh báo một cách hài hước: “Vì Chúa, Mane à, đừng
có bửa vào những gì anh đang nhìn mà hãy bửa vào những gì anh định bửa
ấy nhé.” Một lần khác, khi đang đi xe, một người bạn vô ý để cái áo lông
thú đắt tiền của mình chà trên bánh xe. Cha tôi nhắc: “Kéo áo khoác lên,
anh đang làm hư bánh xe của tôi đấy!”
Cha tôi có một thói quen kỳ lạ: Ông thường nói chuyện với chính mình,
nói rất hăng say và tranh luận rất sôi nổi. Những lúc như thế ông thường
đổi giọng nói. Ai đó mà tình cờ nghe được chắc tưởng rằng nhiều người
đang ở trong phòng.
Dù phải nói rằng mỗi phát minh của tôi phần nhiều đều nhờ thừa
hưởng từ mẹ, nhưng sự huấn luyện của cha cũng rất hữu ích. Hồi đó tôi
phải làm đủ các loại bài tập: đoán suy nghĩ của người khác, tìm lỗi diễn đạt,
lặp lại những câu nói dài hoặc tập tính nhẩm chẳng hạn. Những bài học
hàng ngày đó giúp tăng cường trí nhớ và lý luận, đặc biệt là để phát triển
khả năng phê phán. Chắc chắn những kỹ năng đó rất có lợi.
Giờ nói đến mẹ tôi. Mẹ là hậu duệ của một dòng họ lâu đời nhất ở
trong nước và có nhiều nhà phát minh. Cả cha và ông nội của mẹ tôi đã tạo
ra rất nhiều dụng cụ gia đình, nông cụ và nhiều thứ khác. Bà là một phụ nữ
thực sự vĩ đại, kỹ năng hiếm có, can đảm và dũng cảm, đã vượt qua những
cơn bão của cuộc đời và trải qua nhiều thử thách. Khi bà mười sáu tuổi,
một bệnh dịch nguy hiểm tràn lan trong nước. Ông ngoại tôi được gọi đi
làm lễ rửa tội lần cuối cùng cho những người hấp hối. Trong khi ông ngoại
đi vắng, mẹ đã một mình đến giúp một gia đình hàng xóm đang bị căn bệnh
hoành hành. Bà tắm, mặc quần áo và đặt người chết nằm ngay ngắn, trang
trí hoa theo đúng phong tục. Khi ông ngoại về thì tất cả mọi thứ đã sẵn
sàng để an táng theo nghi lễ Kitô giáo.
Mẹ tôi là một nhà phát minh hàng đầu. Lẽ ra bà đã đạt được nhiều
thành tựu nếu không chọn sống xa rời môi trường xô bồ hiện đại với nhiều
cơ hội lớn. Mẹ phát minh ra đủ loại công cụ, chế đủ kiểu thiết bị và tự tay
dệt nên những mẫu vải đẹp nhất từ loại sợi do bà tự kéo. Thậm chí bà còn
tự tay gieo hạt, trồng cây và tách sợi. Bà làm việc không biết mệt mỏi, từ
mờ sáng cho đến tận đêm khuya. Hầu hết trang phục và đồ nội thất trong
nhà là sản phẩm chính tay mẹ làm. Khi đã quá 60, những ngón tay bà vẫn
còn đủ nhanh nhẹn để xâu kim buộc chỉ!
Thực ra ngoài những lý do kể trên, có một lý do khác còn quan trọng
hơn khiến tôi thức tỉnh muộn màng. Trong thời niên thiếu, tôi bị một bệnh
đặc biệt. Các hình ảnh thường xuất hiện kèm những lóe sáng rất mạnh, làm
nhòe đi hình ảnh các vật thực, cắt ngang suy nghĩ cũng như hành động của
tôi. Đó là hình ảnh những cảnh và vật mà tôi đã từng nhìn thấy chứ không
phải hình ảnh tưởng tượng. Khi tôi nghe một từ nào đó, hình ảnh về sự vật,
hiện tượng mà từ đó nhắc đến sẽ hiện ra sống động trước mắt tôi. Đôi khi
tôi hoàn toàn không thể phân biệt những gì tôi thấy là thực hay không nữa.
Điều này khiến tôi rất khó chịu và lo lắng. Không có chuyên gia tâm lý
hoặc sinh lý nào mà tôi đã tham khảo ý kiến có thể giải thích thỏa đáng
hiện tượng này. Hiện tượng này có vẻ như rất đặc biệt, dù tôi có thể dễ mắc
phải vì anh trai tôi cũng đã từng gặp triệu chứng tương tự. Có thể những
hình ảnh đó là kết quả của hoạt động phản xạ từ não lên võng mạc do kích
thích mạnh. Những hình ảnh đó chắc chắn không phải là ảo giác như được
tạo ra trong những đầu óc bệnh tật, vì xét những khía cạnh khác thì tôi hoàn
toàn bình thường và tỉnh táo. Muốn biết tôi phải khổ sở thế nào, ta hãy giả
sử rằng tôi đã chứng kiến một đám tang hay một cảnh tượng tổn hại thần
kinh tương tự như thế. Thế là vào buổi đêm tĩnh mịch, một bức tranh sinh
động của cảnh đám tang hiển hiện trước mắt tôi dù tôi có muốn hay không.
Nhưng về mặt khoa học mà nói, nếu lời giải thích của tôi là đúng, thì có
thể chiếu lên màn hình hình ảnh của bất kỳ vật gì mà người ta đang nghĩ
trong đầu. Tiến bộ đó sẽ cách mạng hóa tất cả mọi mặt của đời sống nhân
loại. Tôi tin rằng điều kỳ diệu này có thể và sẽ được thực hiện trong thời
gian tới. Nói thêm là tôi đã dành nhiều thời gian suy nghĩ giải quyết vấn đề
này. Tôi đã từng thành công trong việc đưa những hình ảnh trong đầu tôi
vào tâm trí một người đang ngồi ở phòng khác.
Để giải thoát bản thân khỏi những hình ảnh tra tấn này, tôi cố gắng tập
trung tâm trí vào một hình ảnh nào đó khác. Theo cách này tôi thường thấy
nhẹ nhõm tạm thời, nhưng lại phải tạo ra hình ảnh mới liên tục. Chỉ một
thời gian ngắn, tôi đã dùng hết những gì có trong đầu; cuộn phim' của tôi
đã chiếu hết, bởi vì tôi nhìn thế giới quá ít, chủ yếu là những thứ trong nhà
và môi trường nhỏ xung quanh. Khi tôi thực hiện các hoạt động tinh thần
này lần hai hoặc ba để đuổi mấy hình ảnh kinh hoàng kia đi, phương thuốc
dần dần mất hết hiệu lực.
Sau đó, theo bản năng, tôi bắt đầu những chuyến du ngoạn vượt quá
giới hạn thế giới nhỏ bé của mình, và tôi đã thấy những cảnh mới. Lúc
đầu, những cảnh mới đó mờ nhạt không rõ ràng, và thường biến mất đi khi
tôi cố tập trung chú ý. Rồi thì các hình ảnh tưởng tượng bắt đầu mạnh dần,
ngang ngửa với các hình ảnh tôi từng thấy trong thực tế. Dần dần tôi phát
hiện rằng mình thấy thoải mái khi đi sâu vào khám phá thế giới tư duy thị
giác của mình để thu nhận liên tục những trải nghiệm mới. Và thế là tôi bắt
đầu cuộc hành trình, dĩ nhiên là trong tâm trí của tôi. Mỗi đêm (đôi khi cả
ban ngày), khi ở một mình, tôi thường bắt đầu các cuộc hành trình–thấy
những địa điểm, thành phố và quốc gia mới; sống ở đó, gặp gỡ mọi người,
kết bạn làm quen và, dù không thể tin được, thực tế là họ quý giá đối với
tôi như những người trong cuộc sống thực vậy, không kém cạnh chút nào.
Tôi làm như vậy thường xuyên cho đến khoảng năm 17 tuổi, khi suy
nghĩ của tôi nghiêm túc quay sang việc phát minh. Bấy giờ, tôi rất vui thấy
rằng mình có thể hình dung mọi thứ thật dễ dàng. Tôi chẳng cần có mô
hình, bản vẽ hay thí nghiệm gì cả. Tôi có thể hình dung mọi thứ ngay trong
tâm trí mình. Vì vậy, một cách vô thức, tôi đã phát triển một phương pháp
mới để vật chất hóa các khái niệm và ý tưởng sáng tạo. Phương pháp này
đối nghịch tận gốc với phương pháp thí nghiệm thuần túy. Cách của tôi
nhanh chóng và hiệu quả hơn nhiều.
Lúc người ta xây dựng một thiết bị để thực tế hóa một ý tưởng thô, họ
không thể tránh khỏi việc mê mải với các chi tiết nhỏ của bộ máy. Khi tiếp
tục cải thiện và xây dựng lại, sức tập trung giảm bớt và họ không còn nhìn
thấy cái nguyên lý tiềm ẩn cơ bản nhất nữa. Kết quả thì cũng có, nhưng
luôn luôn phải hy sinh chất lượng. Phương pháp của tôi thì khác. Tôi
không vội vàng lao vào công việc thực tế. Khi có ý tưởng, ngay lập tức tôi
bắt đầu xây dựng nó trong trí tưởng tượng. Tôi thay đổi cấu trúc, cải thiện
và vận hành thiết bị trong tâm trí của mình. Dù tôi chạy tua-bin trong tâm
tưởng hay thử nghiệm trong xưởng thì đối với tôi, nó cũng đều tuyệt đối
phi vật chất. Tôi còn lưu ý xem nó mất cân bằng hay không nữa. Không có
bất cứ điều gì khác biệt, các kết quả đều giống nhau. Bằng cách này tôi có
thể nhanh chóng phát triển và hoàn thiện một khái niệm mà không cần
chạm vào bất cứ thứ gì. Khi đã hoàn thiện hết mức có thể xem đi xem lại
không có lỗi nào, tôi sẽ cụ thể hóa hình ảnh tưởng tượng thành vật thể.
Thiết bị hoạt động y như tôi đã hình dung, và thí nghiệm có đầu ra chính
xác như kế hoạch. 20 năm nay chưa có một ngoại lệ nào. Sao mà khác
được chứ! Kỹ nghệ điện hay cơ khí về bản chất đều chỉ là quá trình hiện
thực hóa ý tưởng ra kết quả thôi. Do đó, hầu như không có một thứ gì
không thể kiểm tra trước được bằng các dữ liệu lý thuyết và thực tế có sẵn.
Việc hấp tấp đưa ý tưởng thô đang mài giũa vào thực tế (qua các thí
nghiệm thử sai) chỉ là một cách lãng phí năng lượng, tiền bạc và thời gian
mà thôi.
Căn bệnh này của tôi còn có một ưu điểm khác. Hoạt động trí não
không ngừng phát triển năng lực quan sát và giúp tôi khám phá ra một chân
lí: Tôi để ý là các hình ảnh xuất hiện trong đầu tôi đều bắt nguồn từ một
hình ảnh thực tế nào đó trong những điều kiện đặc biệt khác thường. Vào
mỗi lần các hình ảnh xuất hiện, tôi buộc phải xác định xem xung động ban
đầu là gì. Sau một thời gian, hoạt động truy ngược lại nguồn gốc hình ảnh
trở nên gần như tự động, và tôi đã có khả năng kết nối nguyên nhân và kết
quả cực kỳ tuyệt vời. Thật ngạc nhiên, chẳng bao lâu sau tôi phát hiện rằng
mọi tư tưởng mà tôi tri nhận đều xuất phát từ một ấn tượng bên ngoài.
Không chỉ vậy, tất cả các hành động của tôi cũng bắt nguồn từ hình ảnh
tiếp nhận từ môi trường. Theo thời gian, mọi thứ trở nên hoàn toàn rõ ràng:
Tôi chỉ là một cỗ máy tự động được phú cho khả năng phản ứng với các
kích thích của môi trường thông qua các giác quan. Từ các kích thích và
phản ứng, “cỗ máy tự động TÔI” phát ra các suy nghĩ và hành động.
Từ hiểu biết này, tôi đã phát triển nghệ thuật tự động hóa từ xa. Dù đến
nay vẫn chưa hoàn hảo, nhưng tiềm năng cuối cùng cũng sẽ bộc lộ. Tôi đã
lên kế hoạch về các thiết bị tự động tự kiểm soát lâu rồi. Tôi tin rằng các
máy này có thể được sản xuất khi có đủ nền tảng lý luận và tạo ra một cuộc
cách mạng trong nhiều ngành thương mại và công nghiệp.
Lần đầu tiên tôi truy xuất hình ảnh một cách có ý thức là năm 12 tuổi.
Tuy nhiên, tôi vẫn chưa kiểm soát được những cái lóe sáng đã nói đến ở
trên. Có lẽ đó là trải nghiệm kỳ lạ và khó giải thích nhất của tôi. Nó thường
xảy ra khi tôi đang gặp tình huống nguy hiểm hoặc đau buồn, hoặc khi tôi
rất hưng phấn. Đôi lúc tôi thấy tất cả không khí xung quanh mình đầy
những ngọn lửa đang bùng cháy. Cường độ của nó thay vì giảm bớt lại tăng
theo thời gian, và dường như đạt cực đại khi tôi khoảng 25 tuổi.
Thời gian ở Paris năm 1883, một nhà sản xuất nổi tiếng người Pháp
mời tôi đi săn. Tôi nhận lời. Lâu nay tôi chỉ quanh quẩn trong nhà máy, nên
không khí trong lành sẽ giúp tôi tăng cường sức sống. Khi về lại thành phố
đêm đó, tôi cảm giác rõ ràng rằng bộ não của mình đang cháy rừng rực.*
Tôi thấy mình là một nguồn sáng như thể có một ông mặt trời nhỏ trong
đầu. Cả đêm tôi gần như phải ướp lạnh cái đầu. Cuối cùng, những lóe sáng
giảm tần suất và cường độ, nhưng phải mất hơn 3 tuần nó mới hoàn toàn
lắng xuống. Khi họ mời lần hai, tôi gần như hét ngay câu trả lời: KHÔNG!
Hiện tượng phát sáng vẫn xuất hiện hết lần này đến lần khác, ví dụ như
khi một ý tưởng tiềm năng xuất hiện trong đầu tôi. Thế nhưng, các lóe
sáng không còn mạnh như trước. Khi nhắm mắt, lần nào tôi cũng thấy một
phông nền toàn xanh rất đậm, chẳng khác gì bầu trời vào một đêm không
mây không sao. Vài giây sau, vùng xanh này trở nên sống động với vô số
bông hoa thú vị màu xanh lá, xếp thành nhiều lớp tiến về phía tôi. Sau đó,
bên phải xuất hiện một mô hình gồm hai hệ thống đường song song và gần
nhau. Hai hệ thống đường này vuông góc một cách hoàn hảo, với đủ loại
sắc màu, từ vàng đến xanh lá, và trội hơn hẳn là vàng kim loại. Ngay sau
đó, các đường thẳng sáng lên và toàn bộ được rắc dày những chấm ánh
sáng lấp lánh. Hình ảnh này di chuyển chầm chậm khắp trường thị giác
trong khoảng 10 giây rồi biến mất đi ở phía bên trái, để lại phía sau một
vùng màu xám trơ trơ khá khó chịu cho tới khi pha thứ hai lại đến. Mỗi
lần, trước khi thiếp ngủ, hình ảnh người hoặc vật xuất hiện trước “mắt”
tôi. Khi tôi nhìn thấy những hình ảnh này, tôi biết mình sắp mất đi ý thức.
Nếu các hình ảnh không xuất hiện nghĩa là đêm đó tôi không ngủ được.
Để thấy trí tưởng tượng có vai trò tới mức độ nào trong thời niên thiếu
của mình, tôi sẽ minh họa bằng một số trải nghiệm kỳ lạ khác.
Như mọi đứa trẻ khác, tôi thích nhảy và khát khao mãnh liệt muốn nâng
thân mình bay trong không trung. Thỉnh thoảng một cơn gió mạnh đầy oxy
thổi từ núi xuống, khiến cơ thể tôi nhẹ như nút bấc. Sau đó tôi thường
nhảy và lơ lửng trong không trung một thời gian dài. Cảm giác đó thật thú
vị, nhưng cũng rất đáng thất vọng khi tôi chợt tỉnh và quay về thực tại.
Hồi đó, tôi có nhiều sở thích lẫn nhiều thứ không thích, cũng như
nhiều thói quen kỳ lạ. Một số rõ ràng là do những ấn tượng tôi cảm nhận
được từ thực tế xung quanh, trong khi một số khác không biết do đâu. Tôi
ghét dữ dội khuyên đeo tai của phụ nữ, nhưng đồ trang trí khác, như vòng
đeo tay chẳng hạn, thì tôi yêu ghét tùy theo mẫu mã. Mỗi lần nhìn ngọc trai
là gần như tôi sốc luôn, nhưng tôi lại mê mẩn cái vẻ long lanh của các tinh
thể hoặc các vật có cạnh sắc và bề mặt phẳng. Tôi cũng không bao giờ
muốn chạm vào tóc của người khác, trừ khi có người dí súng vào đầu ép
tôi làm. Tôi phát sốt khi nhìn mấy quả đào, và tôi khiếp nhất nếu có một
miếng long não đâu đó trong nhà. Ngay cả bây giờ tôi cũng không thể tránh
khỏi cảm giác khó chịu với các xung động tiêu cực này. Khi làm rơi những
vuông giấy nhỏ trong một cái đĩa nước, tôi luôn cảm nhận được một vị đặc
biệt kinh khủng trong miệng.
Tôi đếm bước khi đi dạo và tính toán khối lượng đồ ăn trong đĩa súp,
tách cà phê và các mẩu thức ăn, nếu không tôi sẽ thấy bữa ăn chán hết sức.
Tất cả các hành vi hoặc hoạt động lặp đi lặp lại mà tôi thực hiện phải chia
hết cho 3, và nếu bỏ sót tôi thấy mình buộc phải làm lại tất cả, dù có mất
nhiều giờ đi nữa.
Từ nhỏ cho tới lúc 8 tuổi, tôi khá yếu ớt và hay do dự. Tôi không đủ
can đảm hay sức mạnh để có quyết tâm vững chắc. Tình cảm của tôi đến
theo từng đợt, dâng trào và thay đổi không ngừng giữa các thái cực. Những
ước muốn của tôi rất hao tốn sức và giống như con quái vật nhiều đầu,
chặt cái này nó mọc lên cái khác. Tôi đã bị ám ảnh bởi những suy nghĩ về
nỗi đau trong cuộc sống, cái chết và sự sợ hãi Chúa trời. Tôi bị thuyết phục
bởi sự mê tín và sống trong triền miên sợ hãi, từ ma quỷ, thần linh, đến
những quái vật bóng tối xấu xa khác. Rồi bỗng nhiên, một sự chuyển biến
to lớn xảy đến làm thay đổi toàn bộ con đường tồn tại của tôi.
Trong tất cả mọi thứ, tôi thích nhất là sách. Cha tôi có một thư viện lớn
và bất cứ khi nào có thể là tôi cố gắng tranh thủ thỏa mãn đam mê. Ông
không cho phép và thường nổi cơn thịnh nộ khi bắt gặp tôi đọc sách. Sau
này, khi thấy tôi lén đọc sách, cha giấu sạch nến đi. Ông không muốn tôi
hư mắt. Nhưng rồi, tôi lén lấy mỡ động vật làm đèn đốt. Cứ đêm về, tôi
che lỗ khóa và các khe hở rồi đốt “nến” đọc tới sáng, khi mọi người đã
ngủ say, còn mẹ tôi thì bắt đầu công việc gian khổ hàng ngày. Có một lần,
tôi tìm được một cuốn tiểu thuyết tên 'Abafi' (nghĩa là 'con trai của Aba'),
một bản dịch tiếng Serbia tác phẩm của Josika Miklós, nhà văn Hungary
nổi tiếng. Bằng cách nào đó, tác phẩm này đã đánh thức sức mạnh ý chí
tiềm ẩn trong tôi. Từ đó, tôi bắt đầu thực hành tự chủ. Lúc đầu, quyết tâm
của tôi lụi tàn như tuyết tháng Tư, nhưng sau một thời gian ngắn, tôi đã
chinh phục được điểm yếu và có được niềm vui mà trước đây chưa bao
giờ biết tới: thực hiện được những thứ mình quyết tâm làm.
Theo thời gian, sự luyện tập tinh thần mạnh mẽ này dần trở nên quen
thuộc. Lúc đầu, tôi phải kiềm chế những mong muốn, nhưng dần dần ham
muốn và ý chí trở thành đồng nhất. Sau nhiều năm kỷ luật như vậy, tôi đã
làm chủ được bản thân tới mức có thể đùa giỡn với những đam mê có sức
mạnh hủy diệt cả những người mạnh mẽ nhất. Có một thời gian, tôi dính
vào cờ bạc, khiến cha mẹ vô cùng lo lắng. Được ngồi xuống đánh bài là
tuyệt đỉnh niềm vui. Cha tôi sống đời mẫu mực và không thể nào tha thứ
cho sự lãng phí thời gian và tiền bạc vô nghĩa này.
Tôi thì có quyết tâm mạnh mẽ đấy, nhưng triết lý sống lại cực kỳ tào
lao. Tôi hay nói với cha thế này: “Thực ra con muốn ngưng là ngưng được
thôi, nhưng tại sao phải ngưng làm thứ khiến con sướng như đang ở thiên
đàng chứ cha?” Thế là cha tôi bừng bừng, vừa quạu vừa khinh bỉ phát ngôn
của ông con.
Nhưng mẹ thì khác. Hiểu tính cách của đàn ông, và biết rằng chỉ có
mình mới cứu được mình, nên bà đã dùng cách khác. Tôi nhớ một chiều
nọ, khi đã thua sạch túi và thèm đánh bài chết được, thì mẹ tới đưa tôi một
xấp tiền rồi nói: “Đi mà hưởng thụ đi con. Con đốt sạch gia sản nhà mình
càng sớm càng tốt. Mẹ biết con sẽ vượt qua được.”
Mẹ đã đúng. Tôi dẹp bỏ máu đỏ đen ngay. Không chỉ thế, tôi xé nát
hình ảnh bài bạc trong đầu, không còn chút ham muốn nào. Kể từ thời
điểm đó, tôi không còn thiết tha với bất kỳ hình thức cờ bạc nào nữa.
Một lần khác, tôi hút thuốc quá nhiều, có nguy cơ hủy hoại sức khỏe.
Sau đó, ý chí của tôi khẳng định sức mạnh. Tôi không chỉ dừng hút mà còn
triệt tiêu luôn cả cảm giác thèm hút. Trước đó, tôi có vấn đề về tim, rồi
phát hiện ra là do thói quen uống cà phê vô tội vạ mỗi buổi sáng. Tôi ngừng
uống ngay, mặc dù tôi thừa nhận đó không phải là một việc dễ dàng. Bằng
cách này, tôi kiểm soát được các thói quen và đam mê khác. Nhờ đó, tôi
không chỉ bảo vệ đời mình mà còn có được sự sảng khoái vô biên với lối
sống mà người khác xem là thiếu thốn, kiêng khem.
Trải qua thời niên thiếu, sau khi hoàn thành khóa học tại trường Bách
khoa Kỹ thuật ở Graz*, tôi bị suy sụp thần kinh. Trong thời gian đối mặt
với căn bệnh kéo dài, tôi bắt đầu quan sát thấy nhiều hiện tượng kỳ lạ và
khó tin…
Chương 2
Những trải nghiệm khác thường
Tôi sẽ dừng lại một chút với những trải nghiệm khác thường này, vì có
thể có ích đối với các nhà nghiên cứu tâm lý và sinh lý học. Hơn nữa, giai
đoạn thống khổ đó cũng mang đến những kết quả to lớn nhất cho sự phát
triển trí tuệ và sức lao động của tôi sau này. Trước tiên, để hiểu được bản
chất, phải liên hệ các kết quả với những sự việc và điều kiện xảy ra trước
đó để tìm một phần lời giải thích.
Từ nhỏ, tôi đã buộc phải tập trung sự chú ý vào bản thân mình. Điều
này gây ra nhiều đau khổ, nhưng theo quan điểm hiện tại của tôi, thì tưởng
rủi lại hóa ra may, vì điều đó đã dạy tôi biết phải xem trọng giá trị vô song
của khả năng tự tư duy. Chính khả năng này sẽ giúp sống tốt và thành đạt.
Dòng chảy các ấn tượng từ môi trường bên ngoài không ngừng rót vào tâm
thức thông qua các cổng giác quan, khiến cuộc sống hiện đại quá nguy
hiểm. Hầu hết mọi người quá say mê suy ngẫm về thế giới bên ngoài đến
độ hoàn toàn không biết điều gì đang diễn ra bên trong bản thân mình. Cái
chết sớm của hàng triệu người chủ yếu là bởi nguyên nhân này. Ngay cả
trong số những người thường luyện tập tư duy, phân tích, quan sát, vẫn có
người quên mất trí tưởng tượng của mình, để rồi bỏ qua cái nguy hiểm
thực sự và gặp họa. Mà thường thì cái gì đúng với một cá nhân cũng sẽ ít
nhiều đúng với cả một dân tộc.
Tôi không phải lúc nào cũng thích kiêng cữ, nhưng tôi thấy quá trình
kiêng cữ được tưởng thưởng xứng đáng bằng cuộc sống dễ chịu hiện tại.
Để làm rõ hơn ý mình, tôi sẽ hồi tưởng vài chuyện. Mới đây thôi, tôi đang
về khách sạn. Đêm lạnh buốt, mặt đất trơn trượt, không có taxi. Theo sau
tôi nửa dãy nhà là một người khác, rõ ràng cũng đang tìm nơi trú lạnh. Đột
nhiên tôi trượt chân ngửa ra sau. Ngay lúc đó, óc tôi lóe sáng. Dây thần
kinh phản ứng, các cơ co lại. Tôi xoay 180 độ, chống tay xuống, tránh khỏi
đập đầu và tiếp tục đi như thể chưa có chuyện gì xảy ra. Người lạ kia bắt
kịp. Anh hỏi, nhìn tôi dò xét:
– Ông bao nhiêu tuổi rồi?
– Ồ, khoảng 59. Có gì không?
– À, tôi đã thấy mèo lộn mèo chứ chưa bao giờ được thấy người lộn
mèo cả.
Khoảng một tháng trước, tôi muốn đặt mua kính mới và đến một bác sĩ
nhãn khoa. Ông kiểm tra tôi mấy cái thông thường. Ông nhìn tôi đầy nghi
ngờ khi tôi đọc dễ dàng những chữ nhỏ nhất ở đằng xa. Nhưng khi tôi bảo
ông ấy tôi đã quá 60 thì ông muốn hụt hơi vì kinh ngạc.
Bạn bè tôi thường nhận xét rằng bộ đồ tôi mặc vừa như may đo, mà
không biết rằng tất cả quần áo của tôi được may theo số đo gần mười lăm
năm trước và chưa bao giờ thay đổi. Cũng trong thời gian đó, trọng lượng
của tôi không xê xích quá nửa ký. Nhân việc này, tôi xin kể một chuyện vui.
Vào một buổi tối mùa đông năm 1885, ông Edison, ông Edward H.
Johnson (Chủ tịch Công ty Edison Illuminating), ông Charles W. Batchelor
(Giám đốc), và tôi, bước vào một nơi nhỏ bé đối diện 65 Fifth Avenue.
Đây là nơi đặt văn phòng Công ty Edison Illuminating. Có người đề nghị
chơi trò đoán trọng lượng và tôi là kẻ đầu tiên được mời lên “bàn cân” của
cả nhóm. Edison ước lượng khắp người tôi và nói: “Tesla nặng 69 kg, hơn
kém khoảng 30g.” Ông đã đoán chính xác. “Trừ bì” thì tôi 65 kg, trước giờ
vẫn vậy.
Tôi nói nhỏ với ông Johnson: “Sao Edison có thể đoán chính xác vậy?”
Johnson hạ thấp giọng: “À, tôi nói ông nghe bí mật này, đừng nói ai
nhé. Hồi trước Edison có làm thuê trong một lò mổ Chicago một thời gian.
Ngày nào hắn chả cân cả ngàn con heo thiến. Là vậy đó.”
Quý ngài Chauncey M. Dupew bạn tôi thường kể, có lần ông cho một
người Anh nghe một trong những chuyện mình sáng tác. Người đó nghe
với vẻ lúng túng, nhưng một năm sau thì cười thành tiếng. Thú thật là còn
lâu hơn thế nữa tôi mới thấm và thích nổi câu chuyện đùa của Johnson.
Bây giờ, sự an lạc trong tôi đơn giản chỉ là kết quả của cách sống cẩn
thận, chuẩn mực trước đây. Có lẽ điều đáng ngạc nhiên nhất là đã ba lần
trong tuổi thanh xuân, bệnh tật đã làm tôi suy nhược cơ thể đến độ bác sĩ
bó tay. Hơn thế nữa, do ngu dốt và nhẹ dạ, tôi đã vướng phải mọi thứ khó
khăn, nguy hiểm lớn nhỏ. Chả hiểu nhờ phép lạ nào mà tôi đã tự giải thoát
được. Tôi đã suýt bị chết đuối, bị chôn vùi, bị lạc và bị đông lạnh. Tôi đã
thoát trong đường tơ kẽ tóc khỏi lũ chó điên, heo, và đủ loài thú hoang dã
khác. Tôi đã trải qua những căn bệnh khủng khiếp và gặp mọi thứ rủi ro kỳ
cục. Ngày hôm nay tôi vẫn toàn vẹn và vui vẻ, đúng là một phép lạ. Khi tôi
nhớ lại những sự cố này, tôi cảm thấy đúng là sự tồn tại của tôi không
hoàn toàn tình cờ, mà thật ra là tác phẩm của quyền lực thiêng liêng. Mọi
nỗ lực của một nhà phát minh cơ bản đều nhằm bảo vệ sự sống. Dù anh ta
khai thác các lực, cải tiến thiết bị, hay cung cấp tiện nghi mới, anh ta cũng
đều đang giúp cuộc sống của loài người thêm an toàn. Một nhà phát minh
đích thực cũng sẽ tự bảo vệ mình giỏi hơn các cá nhân bình thường nhờ óc
quan sát và sự tháo vát. Do không có thang đo nào đo lường các phẩm chất
này, nên tôi sẽ tìm cách chứng minh qua những trải nghiệm cá nhân. Độc
giả có thể tự mình phán xét.
Có lần, khi đó tôi khoảng 14 tuổi, tôi muốn hù mấy đứa bạn đang tắm
cùng. Kế hoạch của tôi là lặn dưới một công trình nổi rồi lặng lẽ trồi ra
đầu bên kia. Hồi đó tôi bơi giỏi như vịt nên tự tin có thể thực hiện chiến
công này. Thế là tôi lao xuống nước, và khi ra khỏi tầm nhìn của tụi kia, thì
quay lại và lặn nhanh về phía đ...
Nguyễn Hưởng & Nguyễn Hạo Nhiên dịch
★—
—
CUỘC ĐỜI KÌ LẠ
CỦA
NIKOLA TESLA
• THE STRANGE LIFE OF NIKOLA TESLA •
ECOBLADER & NXB KINH TẾ TP.HCM
ebook©vctvegroup | 31-03-2021
Tác Giả
Nikola Tesla (1856-1943), nhà khoa học kiệt xuất
người Mỹ gốc Serbia. Trong cuộc đời mình, Tesla đã có
đến khoảng 300 bằng phát minh, trong đó, đóng góp quan
trọng nhất cho nhân loại của Tesla là việc góp phần đưa
dòng điện xoay chiều vào đời sống.
Tuy cuộc đời Tesla không bằng phẳng, phải chịu nhiều đợt bệnh thập tử
nhất sinh, bị cộng sự chơi xấu, và cuối đời phải sống trong thiếu thốn và
mất đi không một người thân thích bên cạnh, nhưng ông đã để lại một di
sản khổng lồ cho nhân loại. Để tri ân, giới khoa học đã đặt tên đơn vị đo
cường độ cảm ứng từ là tesla.
Lời Nói Đầu
Quyển sách các bạn đang xem là câu chuyện về cuộc đời đầy thăng
trầm nhưng vô cùng ý nghĩa của Nikola Tesla, một trong những nhà phát
minh vĩ đại nhất của nhân loại, người đã góp phần thay đổi hoàn toàn bộ
mặt thế giới Thế kỷ XX-được viết bởi chính Tesla.
Được mệnh danh là “nhà khoa học điên” của giới vật lý, Tesla là người
đi tiên phong đưa kỹ thuật điện, điện từ vào đời sống. Với cách tư duy kỳ
lạ của mình, ông đã có đến khoảng 300 bằng phát minh, tiêu biểu như động
cơ điện không đồng bộ hay lõi Tesla. Rất nhiều phát minh của Tesla đang
được ứng dụng trong các thiết bị điện xung quanh ta ngày nay.
Thật không dễ để hiểu thấu hết những gì đang diễn ra trong đầu Tesla,
một thiên tài với trí nhớ hình ảnh, biết 8 thứ tiếng* có tầm nhìn vượt thời
đại. Những gì ông đã viết trong quyển sách này có thể kỳ lạ và khó tin,
nhưng hãy nhớ rằng, người ta đã mất gần một thế kỷ để biết những gì
Tesla đề xuất là chính xác và khả thi!
Larry Page - đồng sáng lập Google – đã được truyền cảm hứng sau khi
đọc tự truyện của Tesla vào năm 12 tuổi.* Hy vọng quý bạn đọc có thể nhìn
ra được điều gì đó mới mẻ trong những câu chữ của Tesla, bởi đó có thể là
những hiểu biết giúp ta thay đổi cả thế giới này.
Thành phố Hồ Chí Minh, 2016
Ecoblader
Chương 1
Thuở thiếu thời
Sự phát triển không ngừng của con người phụ thuộc sống còn vào các
phát minh. Nó là sản phẩm quan trọng nhất của bộ não sáng tạo. Mục đích
cuối cùng của việc phát minh là để trí tuệ làm chủ hoàn toàn thế giới vật
chất, khai thác các lực lượng thiên nhiên phục vụ nhu cầu của con người.
Các nhà phát minh phải thực hiện nhiệm vụ khó khăn ấy, nhưng lại thường
bị hiểu lầm và không được tưởng thưởng xứng đáng. Tuy nhiên, họ lại cảm
thấy được bù đắp trong quá trình luyện tập phát triển quyền uy của mình.
Họ biết rằng mình là một thành viên của một tầng lớp đặc biệt: Nếu không
có các nhà phát minh, nhân loại có lẽ đã tiêu tùng từ lâu trong cuộc đấu
tranh gay gắt chống lại các tác nhân bạo tàn của Mẹ Tự Nhiên.
Riêng tôi mà nói, tôi cũng đã hưởng quá nhiều niềm vui tinh tế như
vậy. Nhiều lắm, nhiều năm qua cuộc sống của tôi ít khi thiếu vắng niềm
vui. Tôi được ghi nhận là một trong những người làm việc tích cực nhất.
Nếu nói suy nghĩ là lao động thì có lẽ đúng vậy thật, bởi hầu như mỗi thời
khắc còn thức, tôi đều tập trung tư duy hết mình. Nhưng nếu xem lao động
là một hoạt động rõ ràng trong một thời gian nhất định theo một quy tắc
cứng nhắc, thì có lẽ tôi phải tự xếp mình vào danh sách những kẻ lười nhất
trong những kẻ lười.
Khi làm việc dưới sức ép, vì bắt buộc, ta luôn phải hy sinh một lượng
năng lượng sống. Tôi chưa bao giờ phải trả giá như vậy. Ngược lại, cuộc
sống của tôi ngày càng tràn đầy năng lượng trong quá trình tư duy. Trong
quá trình cố gắng liên kết và kể lại một cách trung thực chuyện đời mình,
dù miễn cưỡng thì tôi vẫn phải nói rằng những trải nghiệm thời trẻ chính là
những thứ đóng vai trò chủ chốt trong sự nghiệp của tôi sau này. Những nỗ
lực đầu tiên của con người khi còn nhỏ hoàn toàn mang tính bản năng, tạo
nên trí tưởng tượng sống động và không bị gò bó trong khuôn khổ. Khi lớn
lên, lý trí khẳng định địa vị của mình, dần dần ta trở nên hệ thống và tư duy
có kế hoạch hơn. Tuy vậy, những xung động ban đầu, dù không cho ngay
kết quả, lại chứa đựng những khoảnh khắc tuyệt vời nhất tạo nên định
mệnh cả cuộc đời. Thật vậy, bây giờ tôi thấy hơi tiếc: Nếu hồi đó tôi hiểu
và nuôi dưỡng trí tưởng tượng trẻ thơ thay vì cố gắng đàn áp nó, thì chắc
tôi đã gia tăng đáng kể đóng góp của mình cho nhân loại.
Dù là thế, nhưng cho đến tuổi trưởng thành tôi mới nhận ra mình là
một nhà phát minh. Điều này là do một số nguyên nhân. Trước tiên, tôi có
một người anh tài năng xuất chúng, một trong những hiện tượng tâm lý
hiếm hoi mà sinh học không thể giải thích được. Anh mất sớm khiến cha
mẹ tôi buồn lắm. Hồi đó, nhà tôi có một con ngựa do bạn thân của cha mẹ
tôi tặng. Con ngựa giống Ả Rập, đẹp tuyệt, khôn như người. Cả nhà cưng
nó lắm, vì có một dịp nó đã cứu sống cha tôi.
Lần đó, cha tôi được triệu tập vào một đêm đông để thực hiện nhiệm vụ
khẩn cấp. Khi băng qua núi, cha bị đàn sói bu lại. Con ngựa sợ hãi bỏ chạy,
quăng mạnh ông xuống đất. Nó chạy về đến nhà, máu me đầy người và
gần như kiệt sức. Thế nhưng, sau khi chuông báo động vang lên, ngay lập
tức nó lại lao đi quay lại chỗ cha tôi. Đoàn tìm kiếm chưa đi được bao xa
thì đã gặp cha. Lúc này, ông đã tỉnh và ngồi lại trên lưng ngựa. Ông không
biết rằng mình đã nằm vùi trong tuyết nhiều giờ.
Thế nhưng, chính con ngựa này đã làm anh Dane* bị thương rồi mất.
Tôi đã phải tận mắt chứng kiến cảnh tượng bi thảm đó. Mặc dù nhiều năm
đã trôi qua, mọi chuyện ngày hôm ấy vẫn rõ mồn một trong đầu tôi. Những
hồi ức về thành tựu của anh Dane khiến mọi thứ tôi làm trở nên mờ nhạt.
Mọi thành tựu của tôi không làm cha mẹ hãnh diện, mà trái lại, càng khiến
họ cảm thấy mất mát và buồn khổ hơn. Vì lý do đó, trong cả quãng đời
thơ ấu, tôi không hề tự tin chút nào.
Nhưng nói đi cũng phải nói lại, tôi cũng không phải là đần độn. Ít ra là
không đần trong những câu chuyện mà tôi vẫn còn nhớ về thuở nhỏ của
mình. Ngày nọ, khi tôi và mấy đứa bạn đang chơi trên đường thì mấy
người có chức có quyền đi ngang qua. Quý ông đáng kính nhất…một công
dân giàu có… cho mỗi đứa một đồng bạc. Đến chỗ tôi, ông ấy đột nhiên
dừng lại và ra lệnh, “Nhìn vào mắt ta đây.” Tôi gặp cái nhìn của ông, định
đưa tay ra nhận đồng bạc quý giá, thì mấy lời sau của ông làm tôi thất
vọng não nề: “Không, không được. Nhóc không được lấy tiền của ta. Nhóc
quá thông minh.”
Người ta cũng hay kể một câu chuyện vui về tôi. Chả là tôi có hai
người cô già mặt mày nhăn nheo. Một người còn có mấy cây răng chìa ra
như ngà voi. Mỗi khi cô ấy hôn là răng cỏ nó đâm vô má. Không gì làm tôi
ớn hơn là việc được những người họ hàng không mấy xinh đẹp này âu
yếm. Lần đó, khi đang được mẹ bồng trên tay, tôi bị hai cô hỏi ai đẹp hơn.
Sau khi chăm chú nghiên cứu, ngắm nghía khuôn mặt của họ, tôi trả lời một
cách đầy thông minh: Tôi chỉ vào một cô, bảo: “Cô này không xấu bằng cô
kia.”
Lại nói một chuyện khác. Ngay từ khi sinh ra tôi đã được định sau này
làm giáo sĩ. Ý nghĩ này ám tôi suốt. Tôi muốn trở thành kỹ sư, nhưng cha
tôi tính cứng nhắc lắm. Ông là con trai một sĩ quan phục vụ trong quân đội
của Napoleon Đại đế. Cha và bác tôi (một giáo sư toán học tại một trường
nổi tiếng) đã được giáo dục theo kiểu quân đội từ nhỏ. Nhưng thật lạ, sau
đó cha tôi lại chuyển qua làm giáo sĩ. Dù vậy, ông vẫn rất thành công với
nghề này. Cha tôi là một người rất uyên bác, một nhà triết học tự nhiên,
nhà thơ và nhà văn thực sự. Bài giảng của ông được đánh giá ngang ngửa
với tu sĩ nổi tiếng Abraham a-Sancta-Clara. Cha có một trí nhớ phi thường
và thường xuyên trích dẫn những đoạn rất dài từ các tác phẩm bằng nhiều
ngôn ngữ. Ông thường nói vui rằng nếu lỡ như có mất vài cuốn sách kinh
điển, ông vẫn có thể nhớ và viết lại dễ dàng. Phong cách viết của ông rất
được ngưỡng mộ. Ông viết ngắn gọn nhưng dí dỏm và đầy tính châm
biếm. Các nhận xét hài hước của ông luôn luôn độc đáo và đặc trưng.
Để minh họa, tôi sẽ kể vài chuyện. Trong số những người giúp việc, có
một người lé mắt tên là Mane, được thuê làm việc lặt vặt quanh trang trại.
Ngày nọ, ông ta chẻ củi. Khi ông vung rìu, cha tôi đứng gần đó và cảm
thấy không êm. Cha cảnh báo một cách hài hước: “Vì Chúa, Mane à, đừng
có bửa vào những gì anh đang nhìn mà hãy bửa vào những gì anh định bửa
ấy nhé.” Một lần khác, khi đang đi xe, một người bạn vô ý để cái áo lông
thú đắt tiền của mình chà trên bánh xe. Cha tôi nhắc: “Kéo áo khoác lên,
anh đang làm hư bánh xe của tôi đấy!”
Cha tôi có một thói quen kỳ lạ: Ông thường nói chuyện với chính mình,
nói rất hăng say và tranh luận rất sôi nổi. Những lúc như thế ông thường
đổi giọng nói. Ai đó mà tình cờ nghe được chắc tưởng rằng nhiều người
đang ở trong phòng.
Dù phải nói rằng mỗi phát minh của tôi phần nhiều đều nhờ thừa
hưởng từ mẹ, nhưng sự huấn luyện của cha cũng rất hữu ích. Hồi đó tôi
phải làm đủ các loại bài tập: đoán suy nghĩ của người khác, tìm lỗi diễn đạt,
lặp lại những câu nói dài hoặc tập tính nhẩm chẳng hạn. Những bài học
hàng ngày đó giúp tăng cường trí nhớ và lý luận, đặc biệt là để phát triển
khả năng phê phán. Chắc chắn những kỹ năng đó rất có lợi.
Giờ nói đến mẹ tôi. Mẹ là hậu duệ của một dòng họ lâu đời nhất ở
trong nước và có nhiều nhà phát minh. Cả cha và ông nội của mẹ tôi đã tạo
ra rất nhiều dụng cụ gia đình, nông cụ và nhiều thứ khác. Bà là một phụ nữ
thực sự vĩ đại, kỹ năng hiếm có, can đảm và dũng cảm, đã vượt qua những
cơn bão của cuộc đời và trải qua nhiều thử thách. Khi bà mười sáu tuổi,
một bệnh dịch nguy hiểm tràn lan trong nước. Ông ngoại tôi được gọi đi
làm lễ rửa tội lần cuối cùng cho những người hấp hối. Trong khi ông ngoại
đi vắng, mẹ đã một mình đến giúp một gia đình hàng xóm đang bị căn bệnh
hoành hành. Bà tắm, mặc quần áo và đặt người chết nằm ngay ngắn, trang
trí hoa theo đúng phong tục. Khi ông ngoại về thì tất cả mọi thứ đã sẵn
sàng để an táng theo nghi lễ Kitô giáo.
Mẹ tôi là một nhà phát minh hàng đầu. Lẽ ra bà đã đạt được nhiều
thành tựu nếu không chọn sống xa rời môi trường xô bồ hiện đại với nhiều
cơ hội lớn. Mẹ phát minh ra đủ loại công cụ, chế đủ kiểu thiết bị và tự tay
dệt nên những mẫu vải đẹp nhất từ loại sợi do bà tự kéo. Thậm chí bà còn
tự tay gieo hạt, trồng cây và tách sợi. Bà làm việc không biết mệt mỏi, từ
mờ sáng cho đến tận đêm khuya. Hầu hết trang phục và đồ nội thất trong
nhà là sản phẩm chính tay mẹ làm. Khi đã quá 60, những ngón tay bà vẫn
còn đủ nhanh nhẹn để xâu kim buộc chỉ!
Thực ra ngoài những lý do kể trên, có một lý do khác còn quan trọng
hơn khiến tôi thức tỉnh muộn màng. Trong thời niên thiếu, tôi bị một bệnh
đặc biệt. Các hình ảnh thường xuất hiện kèm những lóe sáng rất mạnh, làm
nhòe đi hình ảnh các vật thực, cắt ngang suy nghĩ cũng như hành động của
tôi. Đó là hình ảnh những cảnh và vật mà tôi đã từng nhìn thấy chứ không
phải hình ảnh tưởng tượng. Khi tôi nghe một từ nào đó, hình ảnh về sự vật,
hiện tượng mà từ đó nhắc đến sẽ hiện ra sống động trước mắt tôi. Đôi khi
tôi hoàn toàn không thể phân biệt những gì tôi thấy là thực hay không nữa.
Điều này khiến tôi rất khó chịu và lo lắng. Không có chuyên gia tâm lý
hoặc sinh lý nào mà tôi đã tham khảo ý kiến có thể giải thích thỏa đáng
hiện tượng này. Hiện tượng này có vẻ như rất đặc biệt, dù tôi có thể dễ mắc
phải vì anh trai tôi cũng đã từng gặp triệu chứng tương tự. Có thể những
hình ảnh đó là kết quả của hoạt động phản xạ từ não lên võng mạc do kích
thích mạnh. Những hình ảnh đó chắc chắn không phải là ảo giác như được
tạo ra trong những đầu óc bệnh tật, vì xét những khía cạnh khác thì tôi hoàn
toàn bình thường và tỉnh táo. Muốn biết tôi phải khổ sở thế nào, ta hãy giả
sử rằng tôi đã chứng kiến một đám tang hay một cảnh tượng tổn hại thần
kinh tương tự như thế. Thế là vào buổi đêm tĩnh mịch, một bức tranh sinh
động của cảnh đám tang hiển hiện trước mắt tôi dù tôi có muốn hay không.
Nhưng về mặt khoa học mà nói, nếu lời giải thích của tôi là đúng, thì có
thể chiếu lên màn hình hình ảnh của bất kỳ vật gì mà người ta đang nghĩ
trong đầu. Tiến bộ đó sẽ cách mạng hóa tất cả mọi mặt của đời sống nhân
loại. Tôi tin rằng điều kỳ diệu này có thể và sẽ được thực hiện trong thời
gian tới. Nói thêm là tôi đã dành nhiều thời gian suy nghĩ giải quyết vấn đề
này. Tôi đã từng thành công trong việc đưa những hình ảnh trong đầu tôi
vào tâm trí một người đang ngồi ở phòng khác.
Để giải thoát bản thân khỏi những hình ảnh tra tấn này, tôi cố gắng tập
trung tâm trí vào một hình ảnh nào đó khác. Theo cách này tôi thường thấy
nhẹ nhõm tạm thời, nhưng lại phải tạo ra hình ảnh mới liên tục. Chỉ một
thời gian ngắn, tôi đã dùng hết những gì có trong đầu; cuộn phim' của tôi
đã chiếu hết, bởi vì tôi nhìn thế giới quá ít, chủ yếu là những thứ trong nhà
và môi trường nhỏ xung quanh. Khi tôi thực hiện các hoạt động tinh thần
này lần hai hoặc ba để đuổi mấy hình ảnh kinh hoàng kia đi, phương thuốc
dần dần mất hết hiệu lực.
Sau đó, theo bản năng, tôi bắt đầu những chuyến du ngoạn vượt quá
giới hạn thế giới nhỏ bé của mình, và tôi đã thấy những cảnh mới. Lúc
đầu, những cảnh mới đó mờ nhạt không rõ ràng, và thường biến mất đi khi
tôi cố tập trung chú ý. Rồi thì các hình ảnh tưởng tượng bắt đầu mạnh dần,
ngang ngửa với các hình ảnh tôi từng thấy trong thực tế. Dần dần tôi phát
hiện rằng mình thấy thoải mái khi đi sâu vào khám phá thế giới tư duy thị
giác của mình để thu nhận liên tục những trải nghiệm mới. Và thế là tôi bắt
đầu cuộc hành trình, dĩ nhiên là trong tâm trí của tôi. Mỗi đêm (đôi khi cả
ban ngày), khi ở một mình, tôi thường bắt đầu các cuộc hành trình–thấy
những địa điểm, thành phố và quốc gia mới; sống ở đó, gặp gỡ mọi người,
kết bạn làm quen và, dù không thể tin được, thực tế là họ quý giá đối với
tôi như những người trong cuộc sống thực vậy, không kém cạnh chút nào.
Tôi làm như vậy thường xuyên cho đến khoảng năm 17 tuổi, khi suy
nghĩ của tôi nghiêm túc quay sang việc phát minh. Bấy giờ, tôi rất vui thấy
rằng mình có thể hình dung mọi thứ thật dễ dàng. Tôi chẳng cần có mô
hình, bản vẽ hay thí nghiệm gì cả. Tôi có thể hình dung mọi thứ ngay trong
tâm trí mình. Vì vậy, một cách vô thức, tôi đã phát triển một phương pháp
mới để vật chất hóa các khái niệm và ý tưởng sáng tạo. Phương pháp này
đối nghịch tận gốc với phương pháp thí nghiệm thuần túy. Cách của tôi
nhanh chóng và hiệu quả hơn nhiều.
Lúc người ta xây dựng một thiết bị để thực tế hóa một ý tưởng thô, họ
không thể tránh khỏi việc mê mải với các chi tiết nhỏ của bộ máy. Khi tiếp
tục cải thiện và xây dựng lại, sức tập trung giảm bớt và họ không còn nhìn
thấy cái nguyên lý tiềm ẩn cơ bản nhất nữa. Kết quả thì cũng có, nhưng
luôn luôn phải hy sinh chất lượng. Phương pháp của tôi thì khác. Tôi
không vội vàng lao vào công việc thực tế. Khi có ý tưởng, ngay lập tức tôi
bắt đầu xây dựng nó trong trí tưởng tượng. Tôi thay đổi cấu trúc, cải thiện
và vận hành thiết bị trong tâm trí của mình. Dù tôi chạy tua-bin trong tâm
tưởng hay thử nghiệm trong xưởng thì đối với tôi, nó cũng đều tuyệt đối
phi vật chất. Tôi còn lưu ý xem nó mất cân bằng hay không nữa. Không có
bất cứ điều gì khác biệt, các kết quả đều giống nhau. Bằng cách này tôi có
thể nhanh chóng phát triển và hoàn thiện một khái niệm mà không cần
chạm vào bất cứ thứ gì. Khi đã hoàn thiện hết mức có thể xem đi xem lại
không có lỗi nào, tôi sẽ cụ thể hóa hình ảnh tưởng tượng thành vật thể.
Thiết bị hoạt động y như tôi đã hình dung, và thí nghiệm có đầu ra chính
xác như kế hoạch. 20 năm nay chưa có một ngoại lệ nào. Sao mà khác
được chứ! Kỹ nghệ điện hay cơ khí về bản chất đều chỉ là quá trình hiện
thực hóa ý tưởng ra kết quả thôi. Do đó, hầu như không có một thứ gì
không thể kiểm tra trước được bằng các dữ liệu lý thuyết và thực tế có sẵn.
Việc hấp tấp đưa ý tưởng thô đang mài giũa vào thực tế (qua các thí
nghiệm thử sai) chỉ là một cách lãng phí năng lượng, tiền bạc và thời gian
mà thôi.
Căn bệnh này của tôi còn có một ưu điểm khác. Hoạt động trí não
không ngừng phát triển năng lực quan sát và giúp tôi khám phá ra một chân
lí: Tôi để ý là các hình ảnh xuất hiện trong đầu tôi đều bắt nguồn từ một
hình ảnh thực tế nào đó trong những điều kiện đặc biệt khác thường. Vào
mỗi lần các hình ảnh xuất hiện, tôi buộc phải xác định xem xung động ban
đầu là gì. Sau một thời gian, hoạt động truy ngược lại nguồn gốc hình ảnh
trở nên gần như tự động, và tôi đã có khả năng kết nối nguyên nhân và kết
quả cực kỳ tuyệt vời. Thật ngạc nhiên, chẳng bao lâu sau tôi phát hiện rằng
mọi tư tưởng mà tôi tri nhận đều xuất phát từ một ấn tượng bên ngoài.
Không chỉ vậy, tất cả các hành động của tôi cũng bắt nguồn từ hình ảnh
tiếp nhận từ môi trường. Theo thời gian, mọi thứ trở nên hoàn toàn rõ ràng:
Tôi chỉ là một cỗ máy tự động được phú cho khả năng phản ứng với các
kích thích của môi trường thông qua các giác quan. Từ các kích thích và
phản ứng, “cỗ máy tự động TÔI” phát ra các suy nghĩ và hành động.
Từ hiểu biết này, tôi đã phát triển nghệ thuật tự động hóa từ xa. Dù đến
nay vẫn chưa hoàn hảo, nhưng tiềm năng cuối cùng cũng sẽ bộc lộ. Tôi đã
lên kế hoạch về các thiết bị tự động tự kiểm soát lâu rồi. Tôi tin rằng các
máy này có thể được sản xuất khi có đủ nền tảng lý luận và tạo ra một cuộc
cách mạng trong nhiều ngành thương mại và công nghiệp.
Lần đầu tiên tôi truy xuất hình ảnh một cách có ý thức là năm 12 tuổi.
Tuy nhiên, tôi vẫn chưa kiểm soát được những cái lóe sáng đã nói đến ở
trên. Có lẽ đó là trải nghiệm kỳ lạ và khó giải thích nhất của tôi. Nó thường
xảy ra khi tôi đang gặp tình huống nguy hiểm hoặc đau buồn, hoặc khi tôi
rất hưng phấn. Đôi lúc tôi thấy tất cả không khí xung quanh mình đầy
những ngọn lửa đang bùng cháy. Cường độ của nó thay vì giảm bớt lại tăng
theo thời gian, và dường như đạt cực đại khi tôi khoảng 25 tuổi.
Thời gian ở Paris năm 1883, một nhà sản xuất nổi tiếng người Pháp
mời tôi đi săn. Tôi nhận lời. Lâu nay tôi chỉ quanh quẩn trong nhà máy, nên
không khí trong lành sẽ giúp tôi tăng cường sức sống. Khi về lại thành phố
đêm đó, tôi cảm giác rõ ràng rằng bộ não của mình đang cháy rừng rực.*
Tôi thấy mình là một nguồn sáng như thể có một ông mặt trời nhỏ trong
đầu. Cả đêm tôi gần như phải ướp lạnh cái đầu. Cuối cùng, những lóe sáng
giảm tần suất và cường độ, nhưng phải mất hơn 3 tuần nó mới hoàn toàn
lắng xuống. Khi họ mời lần hai, tôi gần như hét ngay câu trả lời: KHÔNG!
Hiện tượng phát sáng vẫn xuất hiện hết lần này đến lần khác, ví dụ như
khi một ý tưởng tiềm năng xuất hiện trong đầu tôi. Thế nhưng, các lóe
sáng không còn mạnh như trước. Khi nhắm mắt, lần nào tôi cũng thấy một
phông nền toàn xanh rất đậm, chẳng khác gì bầu trời vào một đêm không
mây không sao. Vài giây sau, vùng xanh này trở nên sống động với vô số
bông hoa thú vị màu xanh lá, xếp thành nhiều lớp tiến về phía tôi. Sau đó,
bên phải xuất hiện một mô hình gồm hai hệ thống đường song song và gần
nhau. Hai hệ thống đường này vuông góc một cách hoàn hảo, với đủ loại
sắc màu, từ vàng đến xanh lá, và trội hơn hẳn là vàng kim loại. Ngay sau
đó, các đường thẳng sáng lên và toàn bộ được rắc dày những chấm ánh
sáng lấp lánh. Hình ảnh này di chuyển chầm chậm khắp trường thị giác
trong khoảng 10 giây rồi biến mất đi ở phía bên trái, để lại phía sau một
vùng màu xám trơ trơ khá khó chịu cho tới khi pha thứ hai lại đến. Mỗi
lần, trước khi thiếp ngủ, hình ảnh người hoặc vật xuất hiện trước “mắt”
tôi. Khi tôi nhìn thấy những hình ảnh này, tôi biết mình sắp mất đi ý thức.
Nếu các hình ảnh không xuất hiện nghĩa là đêm đó tôi không ngủ được.
Để thấy trí tưởng tượng có vai trò tới mức độ nào trong thời niên thiếu
của mình, tôi sẽ minh họa bằng một số trải nghiệm kỳ lạ khác.
Như mọi đứa trẻ khác, tôi thích nhảy và khát khao mãnh liệt muốn nâng
thân mình bay trong không trung. Thỉnh thoảng một cơn gió mạnh đầy oxy
thổi từ núi xuống, khiến cơ thể tôi nhẹ như nút bấc. Sau đó tôi thường
nhảy và lơ lửng trong không trung một thời gian dài. Cảm giác đó thật thú
vị, nhưng cũng rất đáng thất vọng khi tôi chợt tỉnh và quay về thực tại.
Hồi đó, tôi có nhiều sở thích lẫn nhiều thứ không thích, cũng như
nhiều thói quen kỳ lạ. Một số rõ ràng là do những ấn tượng tôi cảm nhận
được từ thực tế xung quanh, trong khi một số khác không biết do đâu. Tôi
ghét dữ dội khuyên đeo tai của phụ nữ, nhưng đồ trang trí khác, như vòng
đeo tay chẳng hạn, thì tôi yêu ghét tùy theo mẫu mã. Mỗi lần nhìn ngọc trai
là gần như tôi sốc luôn, nhưng tôi lại mê mẩn cái vẻ long lanh của các tinh
thể hoặc các vật có cạnh sắc và bề mặt phẳng. Tôi cũng không bao giờ
muốn chạm vào tóc của người khác, trừ khi có người dí súng vào đầu ép
tôi làm. Tôi phát sốt khi nhìn mấy quả đào, và tôi khiếp nhất nếu có một
miếng long não đâu đó trong nhà. Ngay cả bây giờ tôi cũng không thể tránh
khỏi cảm giác khó chịu với các xung động tiêu cực này. Khi làm rơi những
vuông giấy nhỏ trong một cái đĩa nước, tôi luôn cảm nhận được một vị đặc
biệt kinh khủng trong miệng.
Tôi đếm bước khi đi dạo và tính toán khối lượng đồ ăn trong đĩa súp,
tách cà phê và các mẩu thức ăn, nếu không tôi sẽ thấy bữa ăn chán hết sức.
Tất cả các hành vi hoặc hoạt động lặp đi lặp lại mà tôi thực hiện phải chia
hết cho 3, và nếu bỏ sót tôi thấy mình buộc phải làm lại tất cả, dù có mất
nhiều giờ đi nữa.
Từ nhỏ cho tới lúc 8 tuổi, tôi khá yếu ớt và hay do dự. Tôi không đủ
can đảm hay sức mạnh để có quyết tâm vững chắc. Tình cảm của tôi đến
theo từng đợt, dâng trào và thay đổi không ngừng giữa các thái cực. Những
ước muốn của tôi rất hao tốn sức và giống như con quái vật nhiều đầu,
chặt cái này nó mọc lên cái khác. Tôi đã bị ám ảnh bởi những suy nghĩ về
nỗi đau trong cuộc sống, cái chết và sự sợ hãi Chúa trời. Tôi bị thuyết phục
bởi sự mê tín và sống trong triền miên sợ hãi, từ ma quỷ, thần linh, đến
những quái vật bóng tối xấu xa khác. Rồi bỗng nhiên, một sự chuyển biến
to lớn xảy đến làm thay đổi toàn bộ con đường tồn tại của tôi.
Trong tất cả mọi thứ, tôi thích nhất là sách. Cha tôi có một thư viện lớn
và bất cứ khi nào có thể là tôi cố gắng tranh thủ thỏa mãn đam mê. Ông
không cho phép và thường nổi cơn thịnh nộ khi bắt gặp tôi đọc sách. Sau
này, khi thấy tôi lén đọc sách, cha giấu sạch nến đi. Ông không muốn tôi
hư mắt. Nhưng rồi, tôi lén lấy mỡ động vật làm đèn đốt. Cứ đêm về, tôi
che lỗ khóa và các khe hở rồi đốt “nến” đọc tới sáng, khi mọi người đã
ngủ say, còn mẹ tôi thì bắt đầu công việc gian khổ hàng ngày. Có một lần,
tôi tìm được một cuốn tiểu thuyết tên 'Abafi' (nghĩa là 'con trai của Aba'),
một bản dịch tiếng Serbia tác phẩm của Josika Miklós, nhà văn Hungary
nổi tiếng. Bằng cách nào đó, tác phẩm này đã đánh thức sức mạnh ý chí
tiềm ẩn trong tôi. Từ đó, tôi bắt đầu thực hành tự chủ. Lúc đầu, quyết tâm
của tôi lụi tàn như tuyết tháng Tư, nhưng sau một thời gian ngắn, tôi đã
chinh phục được điểm yếu và có được niềm vui mà trước đây chưa bao
giờ biết tới: thực hiện được những thứ mình quyết tâm làm.
Theo thời gian, sự luyện tập tinh thần mạnh mẽ này dần trở nên quen
thuộc. Lúc đầu, tôi phải kiềm chế những mong muốn, nhưng dần dần ham
muốn và ý chí trở thành đồng nhất. Sau nhiều năm kỷ luật như vậy, tôi đã
làm chủ được bản thân tới mức có thể đùa giỡn với những đam mê có sức
mạnh hủy diệt cả những người mạnh mẽ nhất. Có một thời gian, tôi dính
vào cờ bạc, khiến cha mẹ vô cùng lo lắng. Được ngồi xuống đánh bài là
tuyệt đỉnh niềm vui. Cha tôi sống đời mẫu mực và không thể nào tha thứ
cho sự lãng phí thời gian và tiền bạc vô nghĩa này.
Tôi thì có quyết tâm mạnh mẽ đấy, nhưng triết lý sống lại cực kỳ tào
lao. Tôi hay nói với cha thế này: “Thực ra con muốn ngưng là ngưng được
thôi, nhưng tại sao phải ngưng làm thứ khiến con sướng như đang ở thiên
đàng chứ cha?” Thế là cha tôi bừng bừng, vừa quạu vừa khinh bỉ phát ngôn
của ông con.
Nhưng mẹ thì khác. Hiểu tính cách của đàn ông, và biết rằng chỉ có
mình mới cứu được mình, nên bà đã dùng cách khác. Tôi nhớ một chiều
nọ, khi đã thua sạch túi và thèm đánh bài chết được, thì mẹ tới đưa tôi một
xấp tiền rồi nói: “Đi mà hưởng thụ đi con. Con đốt sạch gia sản nhà mình
càng sớm càng tốt. Mẹ biết con sẽ vượt qua được.”
Mẹ đã đúng. Tôi dẹp bỏ máu đỏ đen ngay. Không chỉ thế, tôi xé nát
hình ảnh bài bạc trong đầu, không còn chút ham muốn nào. Kể từ thời
điểm đó, tôi không còn thiết tha với bất kỳ hình thức cờ bạc nào nữa.
Một lần khác, tôi hút thuốc quá nhiều, có nguy cơ hủy hoại sức khỏe.
Sau đó, ý chí của tôi khẳng định sức mạnh. Tôi không chỉ dừng hút mà còn
triệt tiêu luôn cả cảm giác thèm hút. Trước đó, tôi có vấn đề về tim, rồi
phát hiện ra là do thói quen uống cà phê vô tội vạ mỗi buổi sáng. Tôi ngừng
uống ngay, mặc dù tôi thừa nhận đó không phải là một việc dễ dàng. Bằng
cách này, tôi kiểm soát được các thói quen và đam mê khác. Nhờ đó, tôi
không chỉ bảo vệ đời mình mà còn có được sự sảng khoái vô biên với lối
sống mà người khác xem là thiếu thốn, kiêng khem.
Trải qua thời niên thiếu, sau khi hoàn thành khóa học tại trường Bách
khoa Kỹ thuật ở Graz*, tôi bị suy sụp thần kinh. Trong thời gian đối mặt
với căn bệnh kéo dài, tôi bắt đầu quan sát thấy nhiều hiện tượng kỳ lạ và
khó tin…
Chương 2
Những trải nghiệm khác thường
Tôi sẽ dừng lại một chút với những trải nghiệm khác thường này, vì có
thể có ích đối với các nhà nghiên cứu tâm lý và sinh lý học. Hơn nữa, giai
đoạn thống khổ đó cũng mang đến những kết quả to lớn nhất cho sự phát
triển trí tuệ và sức lao động của tôi sau này. Trước tiên, để hiểu được bản
chất, phải liên hệ các kết quả với những sự việc và điều kiện xảy ra trước
đó để tìm một phần lời giải thích.
Từ nhỏ, tôi đã buộc phải tập trung sự chú ý vào bản thân mình. Điều
này gây ra nhiều đau khổ, nhưng theo quan điểm hiện tại của tôi, thì tưởng
rủi lại hóa ra may, vì điều đó đã dạy tôi biết phải xem trọng giá trị vô song
của khả năng tự tư duy. Chính khả năng này sẽ giúp sống tốt và thành đạt.
Dòng chảy các ấn tượng từ môi trường bên ngoài không ngừng rót vào tâm
thức thông qua các cổng giác quan, khiến cuộc sống hiện đại quá nguy
hiểm. Hầu hết mọi người quá say mê suy ngẫm về thế giới bên ngoài đến
độ hoàn toàn không biết điều gì đang diễn ra bên trong bản thân mình. Cái
chết sớm của hàng triệu người chủ yếu là bởi nguyên nhân này. Ngay cả
trong số những người thường luyện tập tư duy, phân tích, quan sát, vẫn có
người quên mất trí tưởng tượng của mình, để rồi bỏ qua cái nguy hiểm
thực sự và gặp họa. Mà thường thì cái gì đúng với một cá nhân cũng sẽ ít
nhiều đúng với cả một dân tộc.
Tôi không phải lúc nào cũng thích kiêng cữ, nhưng tôi thấy quá trình
kiêng cữ được tưởng thưởng xứng đáng bằng cuộc sống dễ chịu hiện tại.
Để làm rõ hơn ý mình, tôi sẽ hồi tưởng vài chuyện. Mới đây thôi, tôi đang
về khách sạn. Đêm lạnh buốt, mặt đất trơn trượt, không có taxi. Theo sau
tôi nửa dãy nhà là một người khác, rõ ràng cũng đang tìm nơi trú lạnh. Đột
nhiên tôi trượt chân ngửa ra sau. Ngay lúc đó, óc tôi lóe sáng. Dây thần
kinh phản ứng, các cơ co lại. Tôi xoay 180 độ, chống tay xuống, tránh khỏi
đập đầu và tiếp tục đi như thể chưa có chuyện gì xảy ra. Người lạ kia bắt
kịp. Anh hỏi, nhìn tôi dò xét:
– Ông bao nhiêu tuổi rồi?
– Ồ, khoảng 59. Có gì không?
– À, tôi đã thấy mèo lộn mèo chứ chưa bao giờ được thấy người lộn
mèo cả.
Khoảng một tháng trước, tôi muốn đặt mua kính mới và đến một bác sĩ
nhãn khoa. Ông kiểm tra tôi mấy cái thông thường. Ông nhìn tôi đầy nghi
ngờ khi tôi đọc dễ dàng những chữ nhỏ nhất ở đằng xa. Nhưng khi tôi bảo
ông ấy tôi đã quá 60 thì ông muốn hụt hơi vì kinh ngạc.
Bạn bè tôi thường nhận xét rằng bộ đồ tôi mặc vừa như may đo, mà
không biết rằng tất cả quần áo của tôi được may theo số đo gần mười lăm
năm trước và chưa bao giờ thay đổi. Cũng trong thời gian đó, trọng lượng
của tôi không xê xích quá nửa ký. Nhân việc này, tôi xin kể một chuyện vui.
Vào một buổi tối mùa đông năm 1885, ông Edison, ông Edward H.
Johnson (Chủ tịch Công ty Edison Illuminating), ông Charles W. Batchelor
(Giám đốc), và tôi, bước vào một nơi nhỏ bé đối diện 65 Fifth Avenue.
Đây là nơi đặt văn phòng Công ty Edison Illuminating. Có người đề nghị
chơi trò đoán trọng lượng và tôi là kẻ đầu tiên được mời lên “bàn cân” của
cả nhóm. Edison ước lượng khắp người tôi và nói: “Tesla nặng 69 kg, hơn
kém khoảng 30g.” Ông đã đoán chính xác. “Trừ bì” thì tôi 65 kg, trước giờ
vẫn vậy.
Tôi nói nhỏ với ông Johnson: “Sao Edison có thể đoán chính xác vậy?”
Johnson hạ thấp giọng: “À, tôi nói ông nghe bí mật này, đừng nói ai
nhé. Hồi trước Edison có làm thuê trong một lò mổ Chicago một thời gian.
Ngày nào hắn chả cân cả ngàn con heo thiến. Là vậy đó.”
Quý ngài Chauncey M. Dupew bạn tôi thường kể, có lần ông cho một
người Anh nghe một trong những chuyện mình sáng tác. Người đó nghe
với vẻ lúng túng, nhưng một năm sau thì cười thành tiếng. Thú thật là còn
lâu hơn thế nữa tôi mới thấm và thích nổi câu chuyện đùa của Johnson.
Bây giờ, sự an lạc trong tôi đơn giản chỉ là kết quả của cách sống cẩn
thận, chuẩn mực trước đây. Có lẽ điều đáng ngạc nhiên nhất là đã ba lần
trong tuổi thanh xuân, bệnh tật đã làm tôi suy nhược cơ thể đến độ bác sĩ
bó tay. Hơn thế nữa, do ngu dốt và nhẹ dạ, tôi đã vướng phải mọi thứ khó
khăn, nguy hiểm lớn nhỏ. Chả hiểu nhờ phép lạ nào mà tôi đã tự giải thoát
được. Tôi đã suýt bị chết đuối, bị chôn vùi, bị lạc và bị đông lạnh. Tôi đã
thoát trong đường tơ kẽ tóc khỏi lũ chó điên, heo, và đủ loài thú hoang dã
khác. Tôi đã trải qua những căn bệnh khủng khiếp và gặp mọi thứ rủi ro kỳ
cục. Ngày hôm nay tôi vẫn toàn vẹn và vui vẻ, đúng là một phép lạ. Khi tôi
nhớ lại những sự cố này, tôi cảm thấy đúng là sự tồn tại của tôi không
hoàn toàn tình cờ, mà thật ra là tác phẩm của quyền lực thiêng liêng. Mọi
nỗ lực của một nhà phát minh cơ bản đều nhằm bảo vệ sự sống. Dù anh ta
khai thác các lực, cải tiến thiết bị, hay cung cấp tiện nghi mới, anh ta cũng
đều đang giúp cuộc sống của loài người thêm an toàn. Một nhà phát minh
đích thực cũng sẽ tự bảo vệ mình giỏi hơn các cá nhân bình thường nhờ óc
quan sát và sự tháo vát. Do không có thang đo nào đo lường các phẩm chất
này, nên tôi sẽ tìm cách chứng minh qua những trải nghiệm cá nhân. Độc
giả có thể tự mình phán xét.
Có lần, khi đó tôi khoảng 14 tuổi, tôi muốn hù mấy đứa bạn đang tắm
cùng. Kế hoạch của tôi là lặn dưới một công trình nổi rồi lặng lẽ trồi ra
đầu bên kia. Hồi đó tôi bơi giỏi như vịt nên tự tin có thể thực hiện chiến
công này. Thế là tôi lao xuống nước, và khi ra khỏi tầm nhìn của tụi kia, thì
quay lại và lặn nhanh về phía đ...
 





