Sách nói Chuyện của Bắp Ăn Mơ Và Xóm Đồi Rơm - Cao Khải An
Chất Michelle - Michelle Obama

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:08' 15-03-2024
Dung lượng: 6.6 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:08' 15-03-2024
Dung lượng: 6.6 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Chất Michelle
Michelle Obama
NXB Tổng hợp TP.HCM (2021)
Từ khóa: Tiểu Sử, Hồi Ký
BECOMING
CHẤT MICHELLE
QUYỂN HỒI KÝ CHÂN THÀNH, GIÀU CẢM XÚC VÀ TRÀN ĐẦY
CẢM HỨNG TỪ CỰU ĐỆ NHẤT PHU NHÂN HOA KỲ
Thuở nhỏ, thế giới của cô bé Michelle Robinson là vùng South Side ở
Chicago, nơi cô và anh trai Craig chia nhau một gian phòng trong căn hộ ở
tầng trên của cả gia đình và chơi đuổi bắt trong công viên, đó cũng là nơi
cha mẹ của cô, ông Fraser và bà Marian Robinson, đã dạy cô tự tin thể hiện
quan điểm thay vì e sợ. Nhưng dòng đời nhanh chóng cuốn cô bé Michelle
đến những vùng đất xa hơn, từ những giảng đường ở Đại học Princeton,
nơi lần đầu tiên Michelle trải nghiệm cảm giác là nữ sinh viên da đen duy
nhất trong lớp, đến tòa nhà văn phòng lắp kính, nơi Michelle trở thành một
luật sư luật doanh nghiệp giàu năng lực – và cũng là nơi vào một sáng mùa
hè, chàng sinh viên luật có tên Barack Obama đã xuất hiện và đảo lộn tất cả
những kế hoạch mà Michelle đã cẩn thận chuẩn bị cho mình.
Trong quyển sách này, lần đầu tiên Michelle Obama đã mô tả những năm
tháng đầu tiên của cuộc hôn nhân, khi bà cố gắng cân bằng giữa công việc
và gia đình với sự nghiệp chính trị tiến triển quá nhanh chóng của mình.
Độc giả sẽ được đưa vào những cuộc tranh luận xem Barack Obama có nên
tranh cử chức tổng thống Mỹ hay không, thấy được vai trò của Michelle
trong chiến dịch vận động tranh cử của chồng đồng thời thấy rằng bà là
nhân vật thường xuyên phải gánh chịu nhiều chỉ trích. Với sự duyên dáng,
hài hước và thẳng thắn hiếm thấy, Michelle Obama mang đến cho độc giả
câu chuyện hậu trường sống động về bước nhảy làm nên lịch sử của gia
đình bà, một bước nhảy đã đưa gia đình Obama vào tâm điểm của thế giới
và trải qua tám năm đáng nhớ trong Nhà Trắng – quãng thời gian giúp bà
hiểu hơn về quốc gia của mình và để quốc gia đó hiểu nhiều hơn về bà.
Khi dũng cảm kể lại câu chuyện về cuộc đời mình một cách chân thành,
Michelle khiến chúng ta đối diện với câu hỏi lớn của đời mình:
Chúng ta là ai, và chúng ta muốn trở thành ai?
“Trước tiên tôi phải thừa nhận rằng không có điều gì khiến tôi thích hơn là
đọc một quyển sách hay. Khi đọc Becoming, tôi bất ngờ nhận ra tâp hồi ký
của Michelle là một quyển sách thực sự đặc biệt. Tôi không chỉ yêu mến
mà còn rất tự hào về Michelle. Quyển sách là những tâm sự, chia sẻ từ trái
tim rất chân thực, hấp dẫn, lôi cuốn – và – đầy quyền năng”
– Oprah Winfrey –
(Người dẫn chương trình truyền hình đối thoại hàng đầu nước Mỹ, một
trong những nhân vật có tầm ảnh hưởng nhất thế giới theo bình chọn của
Forbes)
Trân trọng gửi đến tất cả những người đã giúp tôi trở thành tôi của ngày
hôm nay: những người dưỡng nuôi tôi khôn lớn – Fraser, Marian, Craig và
đại gia đình của tôi, những người phụ nữ đã luôn nâng đỡ, động viên tôi,
những người bạn trung thành và tận tụy khiến tôi luôn cảm thấy ấm áp và
tự hào.
-------Thương gửi tình yêu của đời tôi: Malia và Sasha, hai hạt đậu quý báu nhất
và là lẽ sống của mẹ, và sau cùng, Barack, người luôn truyền cảm hứng
cho em trong mọi hành trình cuộc đời.
Cựu đệ nhất phu nhân Michell Obama tham gia một cuộc phỏng vấn về
cuốn sách “Chất Michelle” với Oprah Winfrey và các biên tập viên của ấn
Ả
phẩm Hearst tại thành phố New York ngày 6 tháng 9 năm 2018. (ẢNH:
Chuck Kennedy)
LỜI TỰA
Tháng 3, 2017
HỒI NHỎ, TÔI MƠ ƯỚC RẤT ĐƠN GIẢN. Tôi muốn có một chú chó.
Tôi muốn một ngôi nhà có cầu thang – một ngôi nhà hai tầng dành cho một
gia đình nhỏ. Vì một lẽ nào đó, tôi cứ muốn được ngồi trong một chiếc
station wagon[1] bốn cửa chứ chẳng phải chiếc Buick[2] hai cửa mà cha tôi
rất yêu thích và tự hào. Tôi từng nói với mọi người rằng sau này khi lớn
lên, tôi sẽ làm bác sĩ nhi khoa. Vì sao ư? Vì tôi thích được ở quanh trẻ nhỏ,
và cũng vì tôi nhanh chóng nhận ra rằng đó cũng là một câu trả lời làm vui
lòng người lớn. Ái chà, trở thành bác sĩ! Lựa chọn vậy mới là lựa chọn
chứ! Thuở đó, tôi thường thắt bím, thích sai bảo ông anh trai của mình và
luôn cố gắng đạt được điểm A ở trường bằng mọi giá. Tôi giàu tham vọng,
mặc dù tôi không rõ mình đang nhắm đến điều gì. Giờ thì tôi thấy câu “lớn
lên con muốn làm gì?” là một trong những câu hỏi vô nghĩa nhất mà người
lớn thường dùng để hỏi một đứa trẻ. Cứ như chỉ cần trưởng thành là xong.
Cứ như chỉ cần trở thành ai đó hay cái gì đó rồi là xong.
[1] Station Wagon: kiểu xe ô-tô phổ biến, có phần thân xe dài hơn các loại
ô-tô thông thường để chở được nhiều đồ hơn. (Tất cả chú thích là của biên
tập viên.)
[2] Buick: một trong những thương hiệu xe ô-tô lâu đời nhất nước Mỹ.
Cho tới lúc này, tôi từng là một luật sư. Tôi từng là phó chủ tịch một bệnh
viện và giám đốc một tổ chức phi lợi nhuận chuyên giúp đỡ giới trẻ khởi
nghiệp. Tôi từng là một sinh viên da đen thuộc tầng lớp lao động theo học
ở một trường đại học uy tín chủ yếu dành cho người da trắng. Tôi từng là
người phụ nữ duy nhất, lại còn là người phụ nữ Mỹ gốc Phi duy nhất,
trong rất nhiều sự kiện mà tôi tham dự. Tôi từng là cô dâu, từng là một
người mẹ trẻ bị căng thẳng quá mức, một đứa con gái buồn đau vì biến cố
gia đình. Và gần đây hơn, tôi từng là Đệ nhất Phu nhân Hoa Kỳ – một công
việc không được chính thức xem là công việc, nhưng đã mang lại cho tôi
một vị thế mà tôi chưa bao giờ có thể hình dung ra được. Công việc ấy thử
thách tôi nhưng cũng khiến tôi cảm thấy mình bé mọn, nó nâng tôi lên
nhưng cũng có lúc khiến tôi phải hạ mình, đôi khi tất cả những thứ ấy diễn
ra cùng lúc. Giờ đây tôi mới đang bắt đầu hiểu rõ hơn những gì đã xảy ra
trong những năm tháng vừa qua – từ thời điểm năm 2006 khi lần đầu tiên
chồng tôi bắt đầu nói về việc anh sẽ tranh cử tổng thống đến buổi sáng
mùa đông giá rét năm 2017, lúc tôi bước vào chiếc limo cùng với Melania
Trump để cùng đến dự lễ nhậm chức của chồng bà. Quả là một chặng
đường dài.
Khi là Đệ nhất Phu nhân, bạn sẽ được chứng kiến những đối cực của nước
Mỹ. Tôi đã dự những buổi tổ chức quyên góp trong những tư dinh không
khác gì viện bảo tàng nghệ thuật, nơi chủ nhân của nó sở hữu những bồn
tắm nạm ngọc sáng loáng. Tôi đã đến thăm những gia đình mất tất cả trong
cơn bão Katrina, chứng kiến họ vừa mừng vừa tủi khi may mắn còn giữ lại
được chiếc tủ lạnh hay lò nướng chưa bị hỏng. Tôi đã gặp những kẻ lố
lăng, rỗng tuếch và giả tạo. Tôi cũng đã gặp những thầy cô giáo, người
thân của những quân nhân và rất nhiều người khác nữa – những người có
nghị lực sâu sắc và mãnh liệt đến kinh ngạc. Và tôi đã gặp những đứa trẻ –
rất nhiều đứa trẻ ở khắp nơi trên thế giới – khiến tôi bật cười và khiến
lòng tôi ngập tràn hy vọng; những đứa trẻ phước thay đã quên đi cái danh
vị tôi là ai ngay khi chúng tôi bắt đầu cùng vui chơi và lao động trong
vườn.
Kể từ thời điểm bất đắc dĩ phải bước vào một cuộc sống không còn tính
riêng tư, tôi đã từng được tung hô như là người phụ nữ quyền lực nhất thế
giới rồi lại bị đạp xuống thành một “mụ đàn bà da đen giận dữ”. Tôi đã rất
muốn hỏi những kẻ phỉ báng ấy rằng phần nào xưng danh xưng kia là quan
trọng nhất đối với họ – “mụ đàn bà” hay “da đen” hay “giận dữ”? Tôi đã
phải tươi cười khi chụp hình với những kẻ đã dùng những tên gọi kinh tởm
để nói về chồng tôi trên truyền hình quốc gia nhưng vẫn muốn có một tấm
ảnh kỷ niệm đóng khung đặt trên lò sưởi nhà mình. Tôi còn nghe những thứ
rất nhơ nhớp trên Internet đồn đoán đủ thứ về tôi, thậm chí họ còn thắc
mắc tôi là đàn bà hay đàn ông. Có một nghị sĩ Mỹ đương nhiệm đã từng
lấy mông tôi ra làm trò. Tôi đã từng tổn thương. Tôi đã từng tức giận.
Nhưng thường thì tôi cố cười cho qua chuyện.
Vẫn còn rất nhiều điều tôi còn chưa hiểu hết về nước Mỹ, về cuộc sống,
và về những gì tương lai sẽ mang lại. Nhưng tôi thật sự hiểu về bản thân
mình. Cha tôi, ông Fraser, đã dạy tôi phải lao động chăm chỉ, luôn tươi
cười và giữ lời hứa. Mẹ tôi, bà Marian, dạy tôi biết nghĩ cho mình và hiểu
giá trị lời nói của bản thân. Khoảng thời gian chúng tôi còn ở trong căn hộ
chật chội ở South Side, Chicago, cha và mẹ đã cùng giúp tôi hiểu rõ giá trị
trong câu chuyện của gia đình, câu chuyện của bản thân tôi, và câu chuyện
lớn hơn của đất nước chúng tôi. Kể cả khi câu chuyện ấy không tốt đẹp
cũng chẳng hoàn mỹ. Kể cả khi câu chuyện ấy trần trụi chứ không màu
hồng như ta mong đợi. Chuyện đời ta là thứ mà ta có, là thứ của riêng ta, là
cái gì đó mà ta sở hữu.
Suốt tám năm, tôi sống trong Nhà Trắng, nơi có rất nhiều cầu thang – chưa
kể vô số thang máy, một đường bowling, và một phòng chuyên trách hoa
tươi. Tôi ngủ trên chiếc giường có tấm vải làm từ vải lanh Ý. Bữa ăn của
vợ chồng tôi do một đội ngũ đầu bếp đẳng cấp thế giới chuẩn bị, được bày
biện bởi bàn tay của những chuyên gia lão luyện – hơn cả các bậc thầy làm
việc tại bất kỳ nhà hàng hay khách sạn năm sao nào. Những nhân viên mật
vụ mặt lạnh như tiền, được trang bị đầy đủ tai nghe và súng ống, luôn túc
trực ngoài cửa phòng, cố hết sức giữ khoảng cách với đời sống riêng tư
của gia đình chúng tôi. Rồi chúng tôi cũng quen với cuộc sống đó – sự
lộng lẫy xa lạ của ngôi nhà mới, và cả sự hiện diện thường trực, yên ắng
của những người lạ mặt luôn ở xung quanh.
Nhà Trắng là nơi hai cô con gái của chúng tôi chơi bóng cùng nhau khắp
các dãy hành lang và trèo cây ở khu vực bãi cỏ phía Nam ở sau tòa nhà.
Nhà Trắng là nơi Barack ngồi làm việc muộn về đêm, trầm ngâm trước
những báo cáo và những bản thảo diễn văn trong Phòng Hiệp ước, cũng là
nơi Sunny, một trong hai chú chó của nhà chúng tôi, đôi khi vẫn làm bậy
trên thảm. Tôi thường đứng ở Ban công Truman quan sát du khách tạo
dáng bằng gậy selfie, có người nghía mắt qua rào sắt, đoán xem điều gì
đang diễn ra bên trong. Do cửa sổ phòng buộc phải đóng kín vì lý do an
ninh, nên có những ngày tôi cảm thấy ngột ngạt đến nỗi tôi phải lên tiếng
gắt gỏng để có được một chút không khí trong lành. Có những lần khác tôi
lại cảm thấy sửng sốt trước vẻ đẹp của hoa mộc lan tây trắng rộ nở trong
vườn, trước cái chộn rộn thường nhật của hoạt động công vụ hay vẻ oai
nghiêm của một buổi nghênh tiếp theo nghi thức quân đội. Cũng có những
tháng ngày tôi cảm thấy căm ghét chính trị. Và cũng có những khoảnh khắc
khi vẻ đẹp của nước Mỹ và con người Mỹ choáng ngợp tới mức tôi chẳng
thể nào thốt nổi thành lời.
Và rồi tất cả kết thúc. Ngay cả khi nhìn thấy ngày này đang đến, ngay cả
vào những tuần cuối cùng ăm ắp những lời chia tay xúc động, thì cái ngày
cuối cùng ấy vẫn rất đỗi mơ hồ. Một bàn tay đặt lên quyển Kinh thánh;
một lời thề được lặp lại. Đồ đạc của vị tổng thống này được khuân ra
ngoài trong lúc đồ đạc của vị tổng thống kia được khuân vào trong. Những
tủ quần áo được dọn sạch sẽ và chất đầy trở lại chỉ trong vỏn vẹn vài giờ
đồng hồ. Tương tự, có những mái đầu mới sẽ kê lên gối mới – những khí
chất mới, những mộng ước mới. Và khi mọi thứ đã xong, khi ta bước ra
khỏi cánh cổng của địa điểm trứ danh nhất thế giới lần cuối, ta phải một
lần nữa tìm lại chính bản thân mình.
Vậy thì cho phép tôi được bắt đầu tại đây, bằng một việc nhỏ vừa xảy ra
không lâu. Khi đó tôi đang ở bên trong ngôi nhà gạch đỏ mà gia đình vừa
chuyển vào. Ngôi nhà mới này tọa lạc chỉ cách nơi ở cũ của chúng tôi
chừng vài cây số, trên một con phố yên tĩnh. Chúng tôi vẫn còn đang thích
nghi với nơi ở mới này. Đồ đạc trong phòng khách được sắp xếp giống
cách bài trí ở Nhà Trắng. Chúng tôi có những món kỷ vật được đặt khắp
nhà để nhắc nhở rằng tất cả những sự việc ấy đã từng xảy ra và có thật –
những tấm ảnh chụp gia đình sum vầy ở Trại David, những chiếc ấm làm
bằng tay của các bạn sinh viên thổ dân da đỏ trao tặng, một quyển sách do
đích thân Nelson Mandela ký tặng. Chỉ lạ là đêm đó cả nhà đều đi vắng.
Barack đang đi xa. Sasha đi chơi với bạn. Malia thì đang sống và làm việc
ở New York, hoàn thành gap year*[3]) trước khi bước vào đại học. Chỉ có
tôi, hai chú chó và một ngôi nhà trống vắng, tĩnh lặng – điều hoàn toàn xa
lạ với tôi trong suốt tám năm qua.
Lúc đó tôi bỗng thấy đói. Tôi đi từ phòng ngủ xuống cầu thang vào nhà
bếp, lẽo đẽo theo sau là hai chú chó. Tôi mở tủ lạnh. Tôi thấy một ổ bánh
mì. Tôi lấy ra hai khoanh và cho vào lò nướng. Tôi mở tủ bếp để lấy một
chiếc đĩa. Nói ra thì nghe lạ lùng, nhưng việc lấy một chiếc đĩa từ kệ bếp
mà không có ai khác cứ khăng khăng để họ làm thay cho, rồi tự đứng bên
lò nướng chờ bánh mì nóng giòn khiến tôi có cảm giác mình đã trở về gần
với cuộc sống mà trước kia tôi đã từng có. Mà cũng có thể đây là cuộc
sống mới của tôi chăng?
Cuối cùng thì tôi không chỉ làm bánh mì, mà là làm bánh mì phô mai. Tôi
cho hai lát bánh có kẹp miếng phô mai béo ngậy ở giữa vào lò vi sóng. Rồi
tôi cầm đĩa bánh ra sân sau. Tôi không cần phải báo với ai mình đang đi
đâu. Tôi cứ đi thôi. Tôi mặc quần ngắn, đi chân không. Cái lạnh cắt da của
mùa đông cuối cùng cũng tan. Mấy bỏng hoa nghệ tây bắt đầu nhú lên khỏi
mặt đất dọc theo bờ tường sau nhà. Không khí thoảng hương xuân. Tôi
ngồi trên bậc thềm ở hàng hiên, cảm nhận hơi ấm của mặt trời ban ngày
hãy còn đọng lại ở phiến đá dưới chân. Có tiếng chó sủa đâu đó từ xa, hai
chú chó nhà tôi nghiêng đầu lắng nghe, thoáng chút bối rối. Tôi chợt nhận
ra đó là âm thanh chói tai lạ lùng đối với chúng, bởi lẽ trước đây trong Nhà
Trắng chúng tôi không hề có ai làm hàng xóm, chứ nói gì đến “chó hàng
xóm”. Đối với chúng, mọi thứ đều mới mẻ. Trong lúc hai chú chó lao đi
khám phá quanh sân, tôi ngồi trong bóng tối ăn bánh mì, cảm thấy thật dễ
chịu khi được ở một mình. Tôi không bận tâm đến nhóm cận vệ có vũ
trang đang ngồi cách tôi chưa đầy một trăm thước tại một chốt chỉ huy mới
được xây dựng ngay bên trong ga-ra, cũng không mấy bận tâm đến một
thực tế là vào thời điểm hiện tại tôi vẫn chưa thể ra đường mà không có các
cận vệ đi theo. Tôi không nghĩ về vị tổng thống mới, và tôi cũng chẳng
nghĩ ngợi gì về vị tiền nhiệm của ông ta.
Tôi chỉ nghĩ đến việc chút nữa tôi sẽ vào nhà, rửa đĩa, sau đó về lại phòng
ngủ, có thể mở một cánh cửa sổ để đón khí xuân – thật tuyệt vời làm sao.
Tôi cũng nghĩ sự tĩnh lặng đang mang lại cho tôi cơ hội thật sự để ngẫm
nghĩ về những chuyện đã qua. Khi còn là Đệ nhất Phu nhân, sau khi một
tuần bận rộn kết thúc, tôi sẽ cần ai đó nhắc cho tôi nhớ cả tuần đó tôi đã
làm gì. Nhưng thời gian nay đã khác xưa. Ngày hai cô con gái của tôi vào
Nhà Trắng, chúng mang theo mấy bộ đồ chơi búp bê Polly Pocket, một
chiếc mền có tên Blankie, và một chú cọp nhồi bông tên Tiger. Giờ đây hai
đứa đã vào tuổi vị thành niên, trở thành những cô gái trẻ trung có kế hoạch
và có tiếng nói của riêng mình. Sau khi rời Nhà Trắng, chồng tôi đang tự
điều chỉnh để thích nghi với cuộc sống mới. Còn tôi, tôi đang ở nơi mới
mẻ này, với rất nhiều điều muốn nói.
3] Gap Year: một năm tạm dừng việc học tâp để trải nghiệm cuộc sốn,
thường là sau khi tốt nghiệp trung học và trước khi vào đại học, đây là
thời gian để các bạn trẻ nghỉ ngơi, tham gia vào các khoá đào tạo kỹ năng
hoạt động xã hội, làm tình nguyện viên, đi làm, đi du lịch…
TÔI
1
Thuở bé tôi dành rất nhiều thời gian lắng nghe âm thanh của sự nỗ lực. Đó
là tiếng nhạc dở tệ, “nghiệp dư”, vọng lên xuyên qua lớp ván sàn phòng
ngủ của tôi – tiếng tinh tinh tinh của đám học trò của bà Robbie ở tầng
dưới, khi chúng ngồi trước cây dương cầm đánh những tiếng đàn lọt chọt
một cách chậm rãi và vụng về. Gia đình tôi sống ở khu South Shore của
thành phố Chicago, trong một căn bungalow[4] ốp gạch. Căn nhà này của
vợ chồng bà Robbie và ông Terry. Cha mẹ tôi thuê tầng trên, còn ông bà
Robbie và Terry sống ở tầng trệt. Robbie là cô của mẹ tôi và bà luôn đối xử
hào phóng với mẹ tôi suốt nhiều năm qua, nhưng đối với tôi thì bà Robbie
khá đáng sợ. Bà nghiêm nghị, là chỉ huy dàn hợp xướng của một nhà thờ
trong vùng, đồng thời là giáo viên dạy dương cầm ở khu chúng tôi sinh
sống. Bà mang những đôi giày cao gót tinh tế và cổ lúc nào cũng lủng lẳng
cặp kính lão. Bà có nụ cười tinh quái nhưng không dễ đón nhận những lời
mỉa mai theo cách mẹ tôi hay làm. Thỉnh thoảng tôi lại nghe bà càm ràm
học viên của mình vì không chăm chỉ luyện đàn, hoặc than phiền với cha
mẹ chúng vì đã đưa con tới học trễ.
“Chúc ngủ ngon!”, bà sẽ nói câu này giữa ban ngày ban mặt, cùng với sự
cau có như khi người ta nói “ôi trời ơi!”. Có vẻ không có mấy người có thể
đáp ứng các tiêu chuẩn của bà Robbie.
Tuy nhiên, âm thanh cho thấy có người nào đó đang nỗ lực đã trở thành
nhạc nền trong cuộc sống của chúng tôi. Tiếng đàn tinh tinh vang lên vào
những buổi trưa, rồi tiếng đàn tinh tinh vang lên vào những buổi chiều.
Những quý bà trong dàn đồng ca nhà thờ thỉnh thoảng sẽ đến tập thánh ca,
gân cổ thể hiện lòng mộ đạo xuyên qua bốn vách tường nhà chúng tôi.
Theo quy tắc của bà Robbie, bọn trẻ học dương cầm chỉ được phép tập mỗi
lần một bài nhạc. Từ phòng mình, tôi lắng nghe nỗ lực của bọn trẻ, từng
nốt ngập ngừng, để có được cái gật đầu của bà. Chúng sẽ tập từ những bài
cơ bản như Hot Cross Buns rồi tiến dần đến Brahms's Lullaby, nhưng phải
sau rất nhiều lần cố gắng. Tiếng nhạc đó chẳng đến nỗi khó chịu, chỉ có
ẳ
điều nó cứ dai dẳng. Nó len lỏi lên chiếc cầu thang ngăn không gian sống
của chúng tôi với không gian của vợ chồng bà Robbie. Nó lãng đãng chui
qua các ô cửa sổ mùa hè đang mở toang, đồng hành với những suy nghĩ
của tôi khi tôi đang chơi búp bê Barbie hoặc xếp gạch xây vương quốc đồ
chơi nhỏ bé của mình. “Khoảng lặng” duy nhất chính là khi cha tôi tan ca
làm sớm ở nhà máy xử lý nước thành phố, về nhà và mở tivi xem trận đấu
của đội bóng chày Cubs, vặn âm thanh lên thật to đủ để át hết tiếng nhạc.
Bấy giờ là cuối những năm 60 tại vùng South Side, Chicago. Đội Cubs
chơi không tệ, nhưng cũng không xuất sắc. Những lúc đó cha tôi thường
ngồi xuống chiếc ghế tựa, còn tôi sẽ ngồi trong lòng cha và nghe ông kể
đội Cubs đang bị sụt giảm phong độ vào cuối mùa giải ra sao, hay tại sao
Billy Williams, siêu sao bóng chày sống ngay bên Đại lộ Constance gần
nhà chúng tôi, lại có cú phát bóng ngọt như vậy từ vị trí phát bóng bên trái.
Bên ngoài sân bóng, nước Mỹ đang ở giữa một cuộc chuyển mình quy mô
lớn và khó lường. Anh em nhà Kennedy đã chết. Martin Luther King Jr. bị
ám sát khi đang đứng diễn thuyết trên ban công tại Memphis, kéo theo một
làn sóng bạo loạn trên khắp nước Mỹ, gồm cả Chicago. Đại hội Toàn quốc
Đảng Dân chủ năm 1968 trở thành sự kiện đẫm máu khi cảnh sát mang gậy
gộc và hơi cay truy bắt những người phản đối chiến tranh Việt Nam ở công
viên Grant, chỉ cách nơi chúng tôi sống khoảng mười bốn cây số vẻ phía
bắc. Trong lúc đó, các gia đình da trắng đang ồ ạt rời khỏi thành phố, đến
với vùng ngoại ô hấp dẫn với lời hứa hẹn về những ngôi trường tốt hơn,
không gian rộng rãi hơn, và hẳn là nhiều người da trắng hơn nữa.
Tôi không thật sự có ấn tượng gì với tất cả những điều kể trên. Tôi chỉ là
một đứa trẻ, một bé gái còn chơi búp bê Barbie và các khối đồ chơi xếp
hình, có cha mẹ và ông anh trai hàng đêm ngủ cách mình chưa đầy một
thước. Gia đình là thế giới của tôi, là trung tâm của mọi sự. Mẹ dạy tôi đọc
từ sớm, dắt tôi đến thư viện công, ngồi cùng khi tôi đánh vần từng chữ trên
trang sách. Mỗi ngày cha tôi đi làm trong bộ đồng phục màu xanh dương
của công chức thành phố, nhưng về đêm ông lại dạy chúng tôi biết đến tình
yêu nhạc jazz và nghệ thuật. Hồi còn trẻ, cha tôi từng theo học Viện Nghệ
thuật Chicago, ông cũng từng vẽ và điêu khắc vào thời trung học. Ông còn
là một vận động viên bơi lội và võ sĩ quyền Anh sáng giá ở trường, và đến
khi trưởng thành, ông là cổ động viên của mọi môn thể thao phát sóng trên
truyền hình, từ giải golf chuyên nghiệp đến giải khúc côn cầu trên băng
quốc gia. Ông thích nhìn những con người mạnh mẽ trở nên vượt trội. Khi
anh trai tôi, Craig, hứng thú với môn bóng rổ, cha đã đặt các đồng xu trên
bậu cửa phòng bếp để anh ấy phải nhảy lên thì mới lấy được.
Mọi thứ cần thiết đều nằm trong bán kính năm dãy nhà – ông bà và các anh
chị em họ, nhà thờ ở góc đường nơi chúng tôi không phải là học sinh
chuyên cần của lớp giáo lý Chủ nhật, cây xăng nơi đôi khi mẹ nhờ tôi đến
mua giúp một gói Newports, cửa hàng rượu kiêm nơi bán bánh mì Wonder,
kẹo que và sữa. Vào những đêm hè oi bức, anh Craig và tôi ngủ thiếp đi
giữa tiếng reo hò của các trận bóng mềm thuộc giải đấu người lớn đang
diễn ra tại công viên gần nhà, cũng là nơi mà vào ban ngày chúng tôi
thường leo trèo ở khu trò chơi vận động hoặc chơi đuổi bắt với những đứa
trẻ khác.
Anh Craig lớn hơn tôi chưa tới hai tuổi. Anh có đôi mắt hiền và tinh thần
lạc quan của cha, còn tính cách thì cứng rắn như mẹ. Hai anh em tôi luôn
thân thiết với nhau, một phần nhờ tình yêu thương bất di bất dịch và có
phần không thể lý giải được mà anh ấy dành cho tôi từ lúc tôi mới lọt lòng.
Chúng tôi có một bức ảnh gia đình trắng đen chụp từ hồi xưa, bốn người
chúng tôi ngồi trên trường kỷ, mẹ mỉm cười bế tôi ngồi trong lòng, gương
mặt cha trông nghiêm nghị và tự hào, còn anh Craig thì ngồi trong lòng
cha. Chúng tôi ăn mặc chỉn chu để dự thánh lễ hay tiệc cưới gì đó. Lúc đó
tôi khoảng tám tháng tuổi, má phúng phính, mặt ngầu, mặc cái quần tã với
chiếc đầm trắng ủi tinh tươm, trông như sắp trượt ra khỏi vòng tay của mẹ,
mắt nhìn chằm chằm như thể muốn nuốt luôn chiếc máy ảnh. Cạnh tôi là
anh Craig, lịch lãm trong chiếc áo vest thắt nơ con, dáng vẻ nghiêm chỉnh.
Lúc ấy anh mới hai tuổi nhưng đã thể hiện được sự thận trọng cùng trách
nhiệm của người làm anh – anh đưa tay nắm lấy cổ tay mập mạp của tôi
với vẻ che chở.
Vào thời điểm chụp bức ảnh đó, gia đình tôi sống đối diện dãy nhà của ông
bà nội ở Parkway Gardens, một dự án nhà đất với những khu căn hộ theo
phong cách tân thời có giá cả phải chăng ở South Side. Công trình được thi
công vào những năm 1950 và thiết kế như chung cư, nhằm giảm tình trạng
thiếu nhà ở cho các gia đình người da đen thuộc tầng lớp lao động giai
đoạn hậu Chiến tranh thế giới thứ hai. Về sau, khu nhà này dần xuống cấp
bởi sự nghèo nàn và các băng đảng bạo lực bủa vây, khiến nó trở thành một
trong những nơi sinh sống nguy hiểm ở thành phố Chicago. Tuy nhiên, rất
lâu trước khi chuyện này diễn ra, khi tôi mới chập chững biết đi, cha mẹ tôi
– vốn quen biết nhau từ thuở thiếu niên và kết hôn ở độ tuổi đôi mươi – đã
nhận lời chuyển xuống phía nam vài cây số để đến sống cùng ông bà Terry
và Robbie trong một khu nhà tử tế hơn.
Trên Đại lộ Euclid, hai hộ gia đình chúng tôi cùng sống dưới một mái nhà
không lớn lắm. Theo cấu trúc thì không gian ở tầng trên có lẽ đã được
thiết kế như căn hộ riêng biệt chỉ dành cho một hoặc hai người, nhưng cả
gia đình bốn người chúng tôi đã xoay xở được. Cha mẹ tôi ngủ trong
phòng ngủ duy nhất, còn anh Craig và tôi chia nhau một khu rộng hơn mà
tôi nghĩ vốn là phòng khách. Sau đó, khi chúng tôi lớn hơn, ông ngoại tôi –
Purnell Shields, một thợ mộc dù không lành nghề cho lắm nhưng lại rất
yêu nghề – mang về một tấm ván rẻ tiền và dựng lên một vách ngăn tạm để
chia căn phòng lớn thành hai gian riêng, ông gắn cửa lùa bằng nhựa cho
mỗi gian và chừa một không gian chung nho nhỏ trước cửa để chúng tôi
cất đồ chơi và sách vở của mình.
Tôi yêu căn phòng của mình. Nó chỉ rộng vừa đủ cho một chiếc giường đôi
và bàn học cỡ hẹp. Tôi để toàn bộ thú nhồi bông trên giường, cẩn thận sắp
xếp chúng quanh đầu nằm mỗi đêm như một nghi thức dễ chịu. Ở bên kia
vách, phòng của anh Craig được sắp xếp gần như đối xứng với phòng tôi,
với chiếc giường ngủ kê sát vách ngăn, song song với giường của tôi.
Vách ngăn mỏng đến mức anh em tôi có thể trò chuyện với nhau khi nằm
trên giường của mình và thường ném quả bóng bằng vớ cuộn tròn qua lại
giữa khe hở khoảng hai tấc của vách ngăn và trần nhà.
Trong khi đó, bà Robbie khiến không gian sống của mình trông như lăng
tẩm. Bàn ghế trong nhà bà được bọc trong màng nhựa bảo vệ khiến chúng
trông thật lạnh lẽo và cứ dính vào cẳng chân tôi mỗi khi tôi đủ can đảm
ngồi lên. Kệ tủ của bà chưng đầy những bức tượng nhỏ bằng sứ mà chúng
tôi không được phép động vào. Tôi thường đưa tay lại gần một bộ tượng
chó xù dễ thương bằng thủy tinh – chó mẹ có dáng vẻ hiền lành cùng ba
chú chó con nhỏ xíu – rỏi rụt tay lại vì sợ cơn lôi đình của bà Robbie.
Những ngày không có lớp dạy đàn thì tầng trệt lặng như tờ. tivi không bao
giờ được mở, radio cũng chẳng bật bao giờ. Thậm chí tôi cũng không chắc
là hai ông bà có thường trò chuyện với nhau không. Tên đầy đủ của chồng
bà Robbie là William Victor Terry, nhưng vì lý do nào đó mà chúng tôi chỉ
gọi ông bằng họ Terry, ông Terry giống như cái bóng lặng lẽ, một người
đàn ông có cung cách thanh lịch mặc com-lê chỉnh tề vào mọi ngày trong
tuần và gần như chẳng bao giờ hé môi.
Tôi thường nghĩ nhà trên và nhà dưới tựa như hai thế giới khác nhau với
hai bầu không khí hoàn toàn đối lập. Trên lầu, chúng tôi ồn ào và không hề
cảm thấy hổ thẹn vì chuyện đó. Craig và tôi chơi ném bóng và rượt đuổi
nhau vòng vòng trong nhà. Chúng tôi xịt nước đánh bóng gỗ lên sàn hành
lang để có thể trượt xa và nhanh hơn khi mang vớ, và chúng tôi vẫn thường
xuyên đâm sầm vào tường. Chúng tôi có những trận đấu quyền Anh giữa
anh trai và em gái trong bếp, dùng hai bộ găng mà cha đã tặng vào dịp
Giáng sinh cùng với những hướng dẫn riêng cho từng đứa để làm sao tung
một cú jab[5] ra hồn.
Về đêm, gia đình chúng tôi cùng chơi board game[6], kể chuyện bông đùa
với nhau và nghe đĩa nhạc của nhóm The Jackson 5. Khi chịu hết nổi thì bà
Robbie nhà duới sẽ dứt khoát tắt rồi bật, rồi lại tắt rồi bật công tắc điện ở
cầu thang chung, đồng thời cũng là công tắc điều khiển đèn hành lang tầng
trên của chúng tôi – như một cách lịch sự để ra hiệu cho chúng tôi nhỏ
tiếng lại.
Bà Robbie và ông Terry đã lớn tuổi. Họ lớn lên ở thời đại khác, với những
mối bận tâm khác. Họ đã chứng kiến những điều mà cha mẹ tôi chưa từng
được chứng kiến – những điều mà hai anh em chúng tôi, ở độ tuổi trẻ con
ồn ào của mình, hoàn toàn không thể tưởng tượng được. Đó là những lời
mà mẹ tôi sẽ nói nếu chúng tôi bắt đầu làu bàu về sự khó chịu của nhà
dưới. Chúng tôi được dạy là dù không biết đến một tình cảnh nào đó thì
cũng hây luôn nhớ là nó có tồn tại. Cha mẹ sẽ nói với chúng tôi rằng ai
cũng có một quá khứ mà chúng ta không hay biết, và chúng ta nên nhớ
điều đó để cảm thông với mọi người. Nhiều năm sau tôi mới biết bà
Robbie đã từng kiện Đại học Northwestern tội kỳ thị chủng tộc – bà đăng
ký tham gia khóa hợp xướng do trường tổ chức vào năm 1943 và không
được phép ở trong ký túc xá nữ. Người ta bảo bà phải thuê phòng trong thị
trấn – nơi “dành cho người da màu”. Còn ông Terry từng là nhân viên
khuân vác hành lý trên toa hạng sang của một trong những chuyến tàu đêm
chở hành khách đi và đến Chicago. Đó là một nghề đáng quý, dù tiền nong
chẳng được cao lắm, hoàn toàn được đảm trách bởi những người đàn ông
da đen – những người vừa cố giữ cho bộ đồng phục của mình phẳng phiu
trong khi khuân vác hành lý, vừa phục vụ bữa ăn và nói chung là phục vụ
những nhu cầu của hành khách đi tàu, kể cả đánh giày.
Nhiều năm sau khi đã nghỉ hưu, ông Terry vẫn giữ lối sống nghiêm nghị
chỉnh tề – ăn mặc chỉn chu, thái độ phục tùng, không bao giờ khẳng định
bản thân dưới bất cứ hình thức nào, ít nhất đó là những gì tôi thấy. Như thể
ông đã từ bỏ một phần con người mình như một cách ứng phó với hoàn
cảnh. Tôi thường thấy ỏng cắt cỏ dưới sân giữa cái nắng hè gay gắt trong
đôi giày tây cổ điển, quần dài có dây đeo vai, nón phớt vành mỏng, ống tay
áo xắn lên cẩn thận. Ông tự nuông chiều bản thân bằng cách hút đúng một
điếu thuốc mỗi ngày và uống đúng một ly cocktail mỗi tháng, và ngay cả
khi ấy thì ông cũng không bao giờ buông thả bản thân theo cách cha mẹ tôi
vẫn làm mỗi tháng vài lần là nốc một ly rượu pha sô-đa hay một chai bia
Schlitz. Một phần nào đó trong tôi muốn ông Terry lên tiếng, bật mí bất cứ
bí mật nào ông đang mang theo. Tôi nghĩ ông có đủ thứ chuyện hay ho về
những thành phố ông đã đặt chân đến, về cách người giàu cư xử hoặc
không biết cư xử trên tàu. Nhưng chúng tôi không hề nghe được chút bí
mật nào từ ông. Vì lý do nào đó, ông Terry không bao giờ hé môi.
ĐƯỢC KHOẢNG BỐN TUỔI, tôi quyết định học dương cầm. Khi đó anh
Craig đang học lớp một. Thỉnh thoảng tôi thấy anh chạy xuống dưới lầu để
theo học lớp dương cầm hàng tuần của bà Robbie và vẫn nguyên vẹn trở
lên. Vậy nên tôi nghĩ mình đã sẵn sàng. Tôi khá tin là thật ra mình đã học
chơi dương cầm bằng cách cảm thụ dần qua biết bao giờ đồng hồ lắng
nghe những đứa trẻ khác lóng ngóng tập đàn. Âm nhạc đã nằm sẵn trong
đầu tôi. Tôi chỉ muốn xuống dưới và thể hiện cho bà Robbie chuẩn-mựccao của mình thấy là tôi có năng khiếu thế nào và sẽ trở thành học trò cưng
của bà mà không tốn nhiều công sức ra sao.
Cây dương cầm của bà Robbie được đặt trong một căn phòng nhỏ vuông
vức ở cuối nhà, gần ô cửa sổ nhìn ra sân sau. Bà đặt chậu cây ở một góc và
chiếc bàn gấp ở góc còn lại để học sinh ngồi điền nhạc phổ. Trong giờ dạy,
bà ngồi thẳng lưng trên chiếc ghế bành lưng cao được bọc nệm, tay gõ
nhịp, đầu ngẩng cao trong lúc chăm chú lắng nghe dò lỗi. Tôi có sợ bà
Robbie hay không? Không hẳn, nhưng bà có vẻ gì đó đáng dè chừng; bà
tượng trưng cho một kiểu uy quyền cứng nhắc mà tôi chưa từng gặp ở nơi
nào khác. Bà đòi hỏi mỗi đứa trẻ ngồi trước cây dương cầm của mình phải
thật xuất sắc. Tôi xem bà Robbie như một nhân vật để lấy lòng, hay có thể
là chinh phục theo cách nào đó. Tôi luôn cảm thấy cần phải chứng tỏ điều
gì đó với bà.
Trong buổi học đầu tiên, chân tôi đong đưa dưới ghế đàn vì ngắn quá chưa
chạm tới sàn nhà. Bà Robbie cho tôi dùng riêng một quyển sách nhạc vỡ
lòng – chuyện này khiến tôi mừng rỡ vô cùng – và dạy tôi cách đặt tay lên
phím đàn.
“Được rồi, hãy tập trung nào”, bà nói, gắt gỏng khi tôi thậm chí còn chưa
bắt đầu. “Hãy tìm phím Đô giữa.”
Khi bạn còn bé, dương cầm có thể trông như cây đàn ngàn phím. Bạn sẽ
nhìn chằm chằm một dải những phím trắng và đen trải dài đến mức hai
cánh tay nhỏ của bạn không thể với tới. Tôi nhanh chóng học được phím
Đô giữa là cột mốc. Đó là ranh giới giữa khu vực dành cho tay phải và tay
trái, giữa khóa Sol và khóa Fa. Nếu bạn có thể đặt ngón cái lên phím Đô
giữa, mọi thứ khác rồi sẽ tự động đâu vào đó. Các phím trên cây đàn của bà
Robbie có chút không đồng đều về màu sắc và hình dáng, vài phím bị sứt
mẻ đôi chỗ theo thời gian, khiến chúng trông như một hàm răng xấu xí.
Thật may, phím Đô giữa lại khuyết hẳn một góc to gần bằng đầu móng tay
tôi, điều này giúp tôi luôn tìm được vị trí trung tâm.
Hóa ra tôi thích dương cầm. Việc ngồi đàn cho tôi cảm giác rất tự nhiên,
như thể đó là chuyện dành cho tôi. Gia đình tôi có nhiều nh...
Michelle Obama
NXB Tổng hợp TP.HCM (2021)
Từ khóa: Tiểu Sử, Hồi Ký
BECOMING
CHẤT MICHELLE
QUYỂN HỒI KÝ CHÂN THÀNH, GIÀU CẢM XÚC VÀ TRÀN ĐẦY
CẢM HỨNG TỪ CỰU ĐỆ NHẤT PHU NHÂN HOA KỲ
Thuở nhỏ, thế giới của cô bé Michelle Robinson là vùng South Side ở
Chicago, nơi cô và anh trai Craig chia nhau một gian phòng trong căn hộ ở
tầng trên của cả gia đình và chơi đuổi bắt trong công viên, đó cũng là nơi
cha mẹ của cô, ông Fraser và bà Marian Robinson, đã dạy cô tự tin thể hiện
quan điểm thay vì e sợ. Nhưng dòng đời nhanh chóng cuốn cô bé Michelle
đến những vùng đất xa hơn, từ những giảng đường ở Đại học Princeton,
nơi lần đầu tiên Michelle trải nghiệm cảm giác là nữ sinh viên da đen duy
nhất trong lớp, đến tòa nhà văn phòng lắp kính, nơi Michelle trở thành một
luật sư luật doanh nghiệp giàu năng lực – và cũng là nơi vào một sáng mùa
hè, chàng sinh viên luật có tên Barack Obama đã xuất hiện và đảo lộn tất cả
những kế hoạch mà Michelle đã cẩn thận chuẩn bị cho mình.
Trong quyển sách này, lần đầu tiên Michelle Obama đã mô tả những năm
tháng đầu tiên của cuộc hôn nhân, khi bà cố gắng cân bằng giữa công việc
và gia đình với sự nghiệp chính trị tiến triển quá nhanh chóng của mình.
Độc giả sẽ được đưa vào những cuộc tranh luận xem Barack Obama có nên
tranh cử chức tổng thống Mỹ hay không, thấy được vai trò của Michelle
trong chiến dịch vận động tranh cử của chồng đồng thời thấy rằng bà là
nhân vật thường xuyên phải gánh chịu nhiều chỉ trích. Với sự duyên dáng,
hài hước và thẳng thắn hiếm thấy, Michelle Obama mang đến cho độc giả
câu chuyện hậu trường sống động về bước nhảy làm nên lịch sử của gia
đình bà, một bước nhảy đã đưa gia đình Obama vào tâm điểm của thế giới
và trải qua tám năm đáng nhớ trong Nhà Trắng – quãng thời gian giúp bà
hiểu hơn về quốc gia của mình và để quốc gia đó hiểu nhiều hơn về bà.
Khi dũng cảm kể lại câu chuyện về cuộc đời mình một cách chân thành,
Michelle khiến chúng ta đối diện với câu hỏi lớn của đời mình:
Chúng ta là ai, và chúng ta muốn trở thành ai?
“Trước tiên tôi phải thừa nhận rằng không có điều gì khiến tôi thích hơn là
đọc một quyển sách hay. Khi đọc Becoming, tôi bất ngờ nhận ra tâp hồi ký
của Michelle là một quyển sách thực sự đặc biệt. Tôi không chỉ yêu mến
mà còn rất tự hào về Michelle. Quyển sách là những tâm sự, chia sẻ từ trái
tim rất chân thực, hấp dẫn, lôi cuốn – và – đầy quyền năng”
– Oprah Winfrey –
(Người dẫn chương trình truyền hình đối thoại hàng đầu nước Mỹ, một
trong những nhân vật có tầm ảnh hưởng nhất thế giới theo bình chọn của
Forbes)
Trân trọng gửi đến tất cả những người đã giúp tôi trở thành tôi của ngày
hôm nay: những người dưỡng nuôi tôi khôn lớn – Fraser, Marian, Craig và
đại gia đình của tôi, những người phụ nữ đã luôn nâng đỡ, động viên tôi,
những người bạn trung thành và tận tụy khiến tôi luôn cảm thấy ấm áp và
tự hào.
-------Thương gửi tình yêu của đời tôi: Malia và Sasha, hai hạt đậu quý báu nhất
và là lẽ sống của mẹ, và sau cùng, Barack, người luôn truyền cảm hứng
cho em trong mọi hành trình cuộc đời.
Cựu đệ nhất phu nhân Michell Obama tham gia một cuộc phỏng vấn về
cuốn sách “Chất Michelle” với Oprah Winfrey và các biên tập viên của ấn
Ả
phẩm Hearst tại thành phố New York ngày 6 tháng 9 năm 2018. (ẢNH:
Chuck Kennedy)
LỜI TỰA
Tháng 3, 2017
HỒI NHỎ, TÔI MƠ ƯỚC RẤT ĐƠN GIẢN. Tôi muốn có một chú chó.
Tôi muốn một ngôi nhà có cầu thang – một ngôi nhà hai tầng dành cho một
gia đình nhỏ. Vì một lẽ nào đó, tôi cứ muốn được ngồi trong một chiếc
station wagon[1] bốn cửa chứ chẳng phải chiếc Buick[2] hai cửa mà cha tôi
rất yêu thích và tự hào. Tôi từng nói với mọi người rằng sau này khi lớn
lên, tôi sẽ làm bác sĩ nhi khoa. Vì sao ư? Vì tôi thích được ở quanh trẻ nhỏ,
và cũng vì tôi nhanh chóng nhận ra rằng đó cũng là một câu trả lời làm vui
lòng người lớn. Ái chà, trở thành bác sĩ! Lựa chọn vậy mới là lựa chọn
chứ! Thuở đó, tôi thường thắt bím, thích sai bảo ông anh trai của mình và
luôn cố gắng đạt được điểm A ở trường bằng mọi giá. Tôi giàu tham vọng,
mặc dù tôi không rõ mình đang nhắm đến điều gì. Giờ thì tôi thấy câu “lớn
lên con muốn làm gì?” là một trong những câu hỏi vô nghĩa nhất mà người
lớn thường dùng để hỏi một đứa trẻ. Cứ như chỉ cần trưởng thành là xong.
Cứ như chỉ cần trở thành ai đó hay cái gì đó rồi là xong.
[1] Station Wagon: kiểu xe ô-tô phổ biến, có phần thân xe dài hơn các loại
ô-tô thông thường để chở được nhiều đồ hơn. (Tất cả chú thích là của biên
tập viên.)
[2] Buick: một trong những thương hiệu xe ô-tô lâu đời nhất nước Mỹ.
Cho tới lúc này, tôi từng là một luật sư. Tôi từng là phó chủ tịch một bệnh
viện và giám đốc một tổ chức phi lợi nhuận chuyên giúp đỡ giới trẻ khởi
nghiệp. Tôi từng là một sinh viên da đen thuộc tầng lớp lao động theo học
ở một trường đại học uy tín chủ yếu dành cho người da trắng. Tôi từng là
người phụ nữ duy nhất, lại còn là người phụ nữ Mỹ gốc Phi duy nhất,
trong rất nhiều sự kiện mà tôi tham dự. Tôi từng là cô dâu, từng là một
người mẹ trẻ bị căng thẳng quá mức, một đứa con gái buồn đau vì biến cố
gia đình. Và gần đây hơn, tôi từng là Đệ nhất Phu nhân Hoa Kỳ – một công
việc không được chính thức xem là công việc, nhưng đã mang lại cho tôi
một vị thế mà tôi chưa bao giờ có thể hình dung ra được. Công việc ấy thử
thách tôi nhưng cũng khiến tôi cảm thấy mình bé mọn, nó nâng tôi lên
nhưng cũng có lúc khiến tôi phải hạ mình, đôi khi tất cả những thứ ấy diễn
ra cùng lúc. Giờ đây tôi mới đang bắt đầu hiểu rõ hơn những gì đã xảy ra
trong những năm tháng vừa qua – từ thời điểm năm 2006 khi lần đầu tiên
chồng tôi bắt đầu nói về việc anh sẽ tranh cử tổng thống đến buổi sáng
mùa đông giá rét năm 2017, lúc tôi bước vào chiếc limo cùng với Melania
Trump để cùng đến dự lễ nhậm chức của chồng bà. Quả là một chặng
đường dài.
Khi là Đệ nhất Phu nhân, bạn sẽ được chứng kiến những đối cực của nước
Mỹ. Tôi đã dự những buổi tổ chức quyên góp trong những tư dinh không
khác gì viện bảo tàng nghệ thuật, nơi chủ nhân của nó sở hữu những bồn
tắm nạm ngọc sáng loáng. Tôi đã đến thăm những gia đình mất tất cả trong
cơn bão Katrina, chứng kiến họ vừa mừng vừa tủi khi may mắn còn giữ lại
được chiếc tủ lạnh hay lò nướng chưa bị hỏng. Tôi đã gặp những kẻ lố
lăng, rỗng tuếch và giả tạo. Tôi cũng đã gặp những thầy cô giáo, người
thân của những quân nhân và rất nhiều người khác nữa – những người có
nghị lực sâu sắc và mãnh liệt đến kinh ngạc. Và tôi đã gặp những đứa trẻ –
rất nhiều đứa trẻ ở khắp nơi trên thế giới – khiến tôi bật cười và khiến
lòng tôi ngập tràn hy vọng; những đứa trẻ phước thay đã quên đi cái danh
vị tôi là ai ngay khi chúng tôi bắt đầu cùng vui chơi và lao động trong
vườn.
Kể từ thời điểm bất đắc dĩ phải bước vào một cuộc sống không còn tính
riêng tư, tôi đã từng được tung hô như là người phụ nữ quyền lực nhất thế
giới rồi lại bị đạp xuống thành một “mụ đàn bà da đen giận dữ”. Tôi đã rất
muốn hỏi những kẻ phỉ báng ấy rằng phần nào xưng danh xưng kia là quan
trọng nhất đối với họ – “mụ đàn bà” hay “da đen” hay “giận dữ”? Tôi đã
phải tươi cười khi chụp hình với những kẻ đã dùng những tên gọi kinh tởm
để nói về chồng tôi trên truyền hình quốc gia nhưng vẫn muốn có một tấm
ảnh kỷ niệm đóng khung đặt trên lò sưởi nhà mình. Tôi còn nghe những thứ
rất nhơ nhớp trên Internet đồn đoán đủ thứ về tôi, thậm chí họ còn thắc
mắc tôi là đàn bà hay đàn ông. Có một nghị sĩ Mỹ đương nhiệm đã từng
lấy mông tôi ra làm trò. Tôi đã từng tổn thương. Tôi đã từng tức giận.
Nhưng thường thì tôi cố cười cho qua chuyện.
Vẫn còn rất nhiều điều tôi còn chưa hiểu hết về nước Mỹ, về cuộc sống,
và về những gì tương lai sẽ mang lại. Nhưng tôi thật sự hiểu về bản thân
mình. Cha tôi, ông Fraser, đã dạy tôi phải lao động chăm chỉ, luôn tươi
cười và giữ lời hứa. Mẹ tôi, bà Marian, dạy tôi biết nghĩ cho mình và hiểu
giá trị lời nói của bản thân. Khoảng thời gian chúng tôi còn ở trong căn hộ
chật chội ở South Side, Chicago, cha và mẹ đã cùng giúp tôi hiểu rõ giá trị
trong câu chuyện của gia đình, câu chuyện của bản thân tôi, và câu chuyện
lớn hơn của đất nước chúng tôi. Kể cả khi câu chuyện ấy không tốt đẹp
cũng chẳng hoàn mỹ. Kể cả khi câu chuyện ấy trần trụi chứ không màu
hồng như ta mong đợi. Chuyện đời ta là thứ mà ta có, là thứ của riêng ta, là
cái gì đó mà ta sở hữu.
Suốt tám năm, tôi sống trong Nhà Trắng, nơi có rất nhiều cầu thang – chưa
kể vô số thang máy, một đường bowling, và một phòng chuyên trách hoa
tươi. Tôi ngủ trên chiếc giường có tấm vải làm từ vải lanh Ý. Bữa ăn của
vợ chồng tôi do một đội ngũ đầu bếp đẳng cấp thế giới chuẩn bị, được bày
biện bởi bàn tay của những chuyên gia lão luyện – hơn cả các bậc thầy làm
việc tại bất kỳ nhà hàng hay khách sạn năm sao nào. Những nhân viên mật
vụ mặt lạnh như tiền, được trang bị đầy đủ tai nghe và súng ống, luôn túc
trực ngoài cửa phòng, cố hết sức giữ khoảng cách với đời sống riêng tư
của gia đình chúng tôi. Rồi chúng tôi cũng quen với cuộc sống đó – sự
lộng lẫy xa lạ của ngôi nhà mới, và cả sự hiện diện thường trực, yên ắng
của những người lạ mặt luôn ở xung quanh.
Nhà Trắng là nơi hai cô con gái của chúng tôi chơi bóng cùng nhau khắp
các dãy hành lang và trèo cây ở khu vực bãi cỏ phía Nam ở sau tòa nhà.
Nhà Trắng là nơi Barack ngồi làm việc muộn về đêm, trầm ngâm trước
những báo cáo và những bản thảo diễn văn trong Phòng Hiệp ước, cũng là
nơi Sunny, một trong hai chú chó của nhà chúng tôi, đôi khi vẫn làm bậy
trên thảm. Tôi thường đứng ở Ban công Truman quan sát du khách tạo
dáng bằng gậy selfie, có người nghía mắt qua rào sắt, đoán xem điều gì
đang diễn ra bên trong. Do cửa sổ phòng buộc phải đóng kín vì lý do an
ninh, nên có những ngày tôi cảm thấy ngột ngạt đến nỗi tôi phải lên tiếng
gắt gỏng để có được một chút không khí trong lành. Có những lần khác tôi
lại cảm thấy sửng sốt trước vẻ đẹp của hoa mộc lan tây trắng rộ nở trong
vườn, trước cái chộn rộn thường nhật của hoạt động công vụ hay vẻ oai
nghiêm của một buổi nghênh tiếp theo nghi thức quân đội. Cũng có những
tháng ngày tôi cảm thấy căm ghét chính trị. Và cũng có những khoảnh khắc
khi vẻ đẹp của nước Mỹ và con người Mỹ choáng ngợp tới mức tôi chẳng
thể nào thốt nổi thành lời.
Và rồi tất cả kết thúc. Ngay cả khi nhìn thấy ngày này đang đến, ngay cả
vào những tuần cuối cùng ăm ắp những lời chia tay xúc động, thì cái ngày
cuối cùng ấy vẫn rất đỗi mơ hồ. Một bàn tay đặt lên quyển Kinh thánh;
một lời thề được lặp lại. Đồ đạc của vị tổng thống này được khuân ra
ngoài trong lúc đồ đạc của vị tổng thống kia được khuân vào trong. Những
tủ quần áo được dọn sạch sẽ và chất đầy trở lại chỉ trong vỏn vẹn vài giờ
đồng hồ. Tương tự, có những mái đầu mới sẽ kê lên gối mới – những khí
chất mới, những mộng ước mới. Và khi mọi thứ đã xong, khi ta bước ra
khỏi cánh cổng của địa điểm trứ danh nhất thế giới lần cuối, ta phải một
lần nữa tìm lại chính bản thân mình.
Vậy thì cho phép tôi được bắt đầu tại đây, bằng một việc nhỏ vừa xảy ra
không lâu. Khi đó tôi đang ở bên trong ngôi nhà gạch đỏ mà gia đình vừa
chuyển vào. Ngôi nhà mới này tọa lạc chỉ cách nơi ở cũ của chúng tôi
chừng vài cây số, trên một con phố yên tĩnh. Chúng tôi vẫn còn đang thích
nghi với nơi ở mới này. Đồ đạc trong phòng khách được sắp xếp giống
cách bài trí ở Nhà Trắng. Chúng tôi có những món kỷ vật được đặt khắp
nhà để nhắc nhở rằng tất cả những sự việc ấy đã từng xảy ra và có thật –
những tấm ảnh chụp gia đình sum vầy ở Trại David, những chiếc ấm làm
bằng tay của các bạn sinh viên thổ dân da đỏ trao tặng, một quyển sách do
đích thân Nelson Mandela ký tặng. Chỉ lạ là đêm đó cả nhà đều đi vắng.
Barack đang đi xa. Sasha đi chơi với bạn. Malia thì đang sống và làm việc
ở New York, hoàn thành gap year*[3]) trước khi bước vào đại học. Chỉ có
tôi, hai chú chó và một ngôi nhà trống vắng, tĩnh lặng – điều hoàn toàn xa
lạ với tôi trong suốt tám năm qua.
Lúc đó tôi bỗng thấy đói. Tôi đi từ phòng ngủ xuống cầu thang vào nhà
bếp, lẽo đẽo theo sau là hai chú chó. Tôi mở tủ lạnh. Tôi thấy một ổ bánh
mì. Tôi lấy ra hai khoanh và cho vào lò nướng. Tôi mở tủ bếp để lấy một
chiếc đĩa. Nói ra thì nghe lạ lùng, nhưng việc lấy một chiếc đĩa từ kệ bếp
mà không có ai khác cứ khăng khăng để họ làm thay cho, rồi tự đứng bên
lò nướng chờ bánh mì nóng giòn khiến tôi có cảm giác mình đã trở về gần
với cuộc sống mà trước kia tôi đã từng có. Mà cũng có thể đây là cuộc
sống mới của tôi chăng?
Cuối cùng thì tôi không chỉ làm bánh mì, mà là làm bánh mì phô mai. Tôi
cho hai lát bánh có kẹp miếng phô mai béo ngậy ở giữa vào lò vi sóng. Rồi
tôi cầm đĩa bánh ra sân sau. Tôi không cần phải báo với ai mình đang đi
đâu. Tôi cứ đi thôi. Tôi mặc quần ngắn, đi chân không. Cái lạnh cắt da của
mùa đông cuối cùng cũng tan. Mấy bỏng hoa nghệ tây bắt đầu nhú lên khỏi
mặt đất dọc theo bờ tường sau nhà. Không khí thoảng hương xuân. Tôi
ngồi trên bậc thềm ở hàng hiên, cảm nhận hơi ấm của mặt trời ban ngày
hãy còn đọng lại ở phiến đá dưới chân. Có tiếng chó sủa đâu đó từ xa, hai
chú chó nhà tôi nghiêng đầu lắng nghe, thoáng chút bối rối. Tôi chợt nhận
ra đó là âm thanh chói tai lạ lùng đối với chúng, bởi lẽ trước đây trong Nhà
Trắng chúng tôi không hề có ai làm hàng xóm, chứ nói gì đến “chó hàng
xóm”. Đối với chúng, mọi thứ đều mới mẻ. Trong lúc hai chú chó lao đi
khám phá quanh sân, tôi ngồi trong bóng tối ăn bánh mì, cảm thấy thật dễ
chịu khi được ở một mình. Tôi không bận tâm đến nhóm cận vệ có vũ
trang đang ngồi cách tôi chưa đầy một trăm thước tại một chốt chỉ huy mới
được xây dựng ngay bên trong ga-ra, cũng không mấy bận tâm đến một
thực tế là vào thời điểm hiện tại tôi vẫn chưa thể ra đường mà không có các
cận vệ đi theo. Tôi không nghĩ về vị tổng thống mới, và tôi cũng chẳng
nghĩ ngợi gì về vị tiền nhiệm của ông ta.
Tôi chỉ nghĩ đến việc chút nữa tôi sẽ vào nhà, rửa đĩa, sau đó về lại phòng
ngủ, có thể mở một cánh cửa sổ để đón khí xuân – thật tuyệt vời làm sao.
Tôi cũng nghĩ sự tĩnh lặng đang mang lại cho tôi cơ hội thật sự để ngẫm
nghĩ về những chuyện đã qua. Khi còn là Đệ nhất Phu nhân, sau khi một
tuần bận rộn kết thúc, tôi sẽ cần ai đó nhắc cho tôi nhớ cả tuần đó tôi đã
làm gì. Nhưng thời gian nay đã khác xưa. Ngày hai cô con gái của tôi vào
Nhà Trắng, chúng mang theo mấy bộ đồ chơi búp bê Polly Pocket, một
chiếc mền có tên Blankie, và một chú cọp nhồi bông tên Tiger. Giờ đây hai
đứa đã vào tuổi vị thành niên, trở thành những cô gái trẻ trung có kế hoạch
và có tiếng nói của riêng mình. Sau khi rời Nhà Trắng, chồng tôi đang tự
điều chỉnh để thích nghi với cuộc sống mới. Còn tôi, tôi đang ở nơi mới
mẻ này, với rất nhiều điều muốn nói.
3] Gap Year: một năm tạm dừng việc học tâp để trải nghiệm cuộc sốn,
thường là sau khi tốt nghiệp trung học và trước khi vào đại học, đây là
thời gian để các bạn trẻ nghỉ ngơi, tham gia vào các khoá đào tạo kỹ năng
hoạt động xã hội, làm tình nguyện viên, đi làm, đi du lịch…
TÔI
1
Thuở bé tôi dành rất nhiều thời gian lắng nghe âm thanh của sự nỗ lực. Đó
là tiếng nhạc dở tệ, “nghiệp dư”, vọng lên xuyên qua lớp ván sàn phòng
ngủ của tôi – tiếng tinh tinh tinh của đám học trò của bà Robbie ở tầng
dưới, khi chúng ngồi trước cây dương cầm đánh những tiếng đàn lọt chọt
một cách chậm rãi và vụng về. Gia đình tôi sống ở khu South Shore của
thành phố Chicago, trong một căn bungalow[4] ốp gạch. Căn nhà này của
vợ chồng bà Robbie và ông Terry. Cha mẹ tôi thuê tầng trên, còn ông bà
Robbie và Terry sống ở tầng trệt. Robbie là cô của mẹ tôi và bà luôn đối xử
hào phóng với mẹ tôi suốt nhiều năm qua, nhưng đối với tôi thì bà Robbie
khá đáng sợ. Bà nghiêm nghị, là chỉ huy dàn hợp xướng của một nhà thờ
trong vùng, đồng thời là giáo viên dạy dương cầm ở khu chúng tôi sinh
sống. Bà mang những đôi giày cao gót tinh tế và cổ lúc nào cũng lủng lẳng
cặp kính lão. Bà có nụ cười tinh quái nhưng không dễ đón nhận những lời
mỉa mai theo cách mẹ tôi hay làm. Thỉnh thoảng tôi lại nghe bà càm ràm
học viên của mình vì không chăm chỉ luyện đàn, hoặc than phiền với cha
mẹ chúng vì đã đưa con tới học trễ.
“Chúc ngủ ngon!”, bà sẽ nói câu này giữa ban ngày ban mặt, cùng với sự
cau có như khi người ta nói “ôi trời ơi!”. Có vẻ không có mấy người có thể
đáp ứng các tiêu chuẩn của bà Robbie.
Tuy nhiên, âm thanh cho thấy có người nào đó đang nỗ lực đã trở thành
nhạc nền trong cuộc sống của chúng tôi. Tiếng đàn tinh tinh vang lên vào
những buổi trưa, rồi tiếng đàn tinh tinh vang lên vào những buổi chiều.
Những quý bà trong dàn đồng ca nhà thờ thỉnh thoảng sẽ đến tập thánh ca,
gân cổ thể hiện lòng mộ đạo xuyên qua bốn vách tường nhà chúng tôi.
Theo quy tắc của bà Robbie, bọn trẻ học dương cầm chỉ được phép tập mỗi
lần một bài nhạc. Từ phòng mình, tôi lắng nghe nỗ lực của bọn trẻ, từng
nốt ngập ngừng, để có được cái gật đầu của bà. Chúng sẽ tập từ những bài
cơ bản như Hot Cross Buns rồi tiến dần đến Brahms's Lullaby, nhưng phải
sau rất nhiều lần cố gắng. Tiếng nhạc đó chẳng đến nỗi khó chịu, chỉ có
ẳ
điều nó cứ dai dẳng. Nó len lỏi lên chiếc cầu thang ngăn không gian sống
của chúng tôi với không gian của vợ chồng bà Robbie. Nó lãng đãng chui
qua các ô cửa sổ mùa hè đang mở toang, đồng hành với những suy nghĩ
của tôi khi tôi đang chơi búp bê Barbie hoặc xếp gạch xây vương quốc đồ
chơi nhỏ bé của mình. “Khoảng lặng” duy nhất chính là khi cha tôi tan ca
làm sớm ở nhà máy xử lý nước thành phố, về nhà và mở tivi xem trận đấu
của đội bóng chày Cubs, vặn âm thanh lên thật to đủ để át hết tiếng nhạc.
Bấy giờ là cuối những năm 60 tại vùng South Side, Chicago. Đội Cubs
chơi không tệ, nhưng cũng không xuất sắc. Những lúc đó cha tôi thường
ngồi xuống chiếc ghế tựa, còn tôi sẽ ngồi trong lòng cha và nghe ông kể
đội Cubs đang bị sụt giảm phong độ vào cuối mùa giải ra sao, hay tại sao
Billy Williams, siêu sao bóng chày sống ngay bên Đại lộ Constance gần
nhà chúng tôi, lại có cú phát bóng ngọt như vậy từ vị trí phát bóng bên trái.
Bên ngoài sân bóng, nước Mỹ đang ở giữa một cuộc chuyển mình quy mô
lớn và khó lường. Anh em nhà Kennedy đã chết. Martin Luther King Jr. bị
ám sát khi đang đứng diễn thuyết trên ban công tại Memphis, kéo theo một
làn sóng bạo loạn trên khắp nước Mỹ, gồm cả Chicago. Đại hội Toàn quốc
Đảng Dân chủ năm 1968 trở thành sự kiện đẫm máu khi cảnh sát mang gậy
gộc và hơi cay truy bắt những người phản đối chiến tranh Việt Nam ở công
viên Grant, chỉ cách nơi chúng tôi sống khoảng mười bốn cây số vẻ phía
bắc. Trong lúc đó, các gia đình da trắng đang ồ ạt rời khỏi thành phố, đến
với vùng ngoại ô hấp dẫn với lời hứa hẹn về những ngôi trường tốt hơn,
không gian rộng rãi hơn, và hẳn là nhiều người da trắng hơn nữa.
Tôi không thật sự có ấn tượng gì với tất cả những điều kể trên. Tôi chỉ là
một đứa trẻ, một bé gái còn chơi búp bê Barbie và các khối đồ chơi xếp
hình, có cha mẹ và ông anh trai hàng đêm ngủ cách mình chưa đầy một
thước. Gia đình là thế giới của tôi, là trung tâm của mọi sự. Mẹ dạy tôi đọc
từ sớm, dắt tôi đến thư viện công, ngồi cùng khi tôi đánh vần từng chữ trên
trang sách. Mỗi ngày cha tôi đi làm trong bộ đồng phục màu xanh dương
của công chức thành phố, nhưng về đêm ông lại dạy chúng tôi biết đến tình
yêu nhạc jazz và nghệ thuật. Hồi còn trẻ, cha tôi từng theo học Viện Nghệ
thuật Chicago, ông cũng từng vẽ và điêu khắc vào thời trung học. Ông còn
là một vận động viên bơi lội và võ sĩ quyền Anh sáng giá ở trường, và đến
khi trưởng thành, ông là cổ động viên của mọi môn thể thao phát sóng trên
truyền hình, từ giải golf chuyên nghiệp đến giải khúc côn cầu trên băng
quốc gia. Ông thích nhìn những con người mạnh mẽ trở nên vượt trội. Khi
anh trai tôi, Craig, hứng thú với môn bóng rổ, cha đã đặt các đồng xu trên
bậu cửa phòng bếp để anh ấy phải nhảy lên thì mới lấy được.
Mọi thứ cần thiết đều nằm trong bán kính năm dãy nhà – ông bà và các anh
chị em họ, nhà thờ ở góc đường nơi chúng tôi không phải là học sinh
chuyên cần của lớp giáo lý Chủ nhật, cây xăng nơi đôi khi mẹ nhờ tôi đến
mua giúp một gói Newports, cửa hàng rượu kiêm nơi bán bánh mì Wonder,
kẹo que và sữa. Vào những đêm hè oi bức, anh Craig và tôi ngủ thiếp đi
giữa tiếng reo hò của các trận bóng mềm thuộc giải đấu người lớn đang
diễn ra tại công viên gần nhà, cũng là nơi mà vào ban ngày chúng tôi
thường leo trèo ở khu trò chơi vận động hoặc chơi đuổi bắt với những đứa
trẻ khác.
Anh Craig lớn hơn tôi chưa tới hai tuổi. Anh có đôi mắt hiền và tinh thần
lạc quan của cha, còn tính cách thì cứng rắn như mẹ. Hai anh em tôi luôn
thân thiết với nhau, một phần nhờ tình yêu thương bất di bất dịch và có
phần không thể lý giải được mà anh ấy dành cho tôi từ lúc tôi mới lọt lòng.
Chúng tôi có một bức ảnh gia đình trắng đen chụp từ hồi xưa, bốn người
chúng tôi ngồi trên trường kỷ, mẹ mỉm cười bế tôi ngồi trong lòng, gương
mặt cha trông nghiêm nghị và tự hào, còn anh Craig thì ngồi trong lòng
cha. Chúng tôi ăn mặc chỉn chu để dự thánh lễ hay tiệc cưới gì đó. Lúc đó
tôi khoảng tám tháng tuổi, má phúng phính, mặt ngầu, mặc cái quần tã với
chiếc đầm trắng ủi tinh tươm, trông như sắp trượt ra khỏi vòng tay của mẹ,
mắt nhìn chằm chằm như thể muốn nuốt luôn chiếc máy ảnh. Cạnh tôi là
anh Craig, lịch lãm trong chiếc áo vest thắt nơ con, dáng vẻ nghiêm chỉnh.
Lúc ấy anh mới hai tuổi nhưng đã thể hiện được sự thận trọng cùng trách
nhiệm của người làm anh – anh đưa tay nắm lấy cổ tay mập mạp của tôi
với vẻ che chở.
Vào thời điểm chụp bức ảnh đó, gia đình tôi sống đối diện dãy nhà của ông
bà nội ở Parkway Gardens, một dự án nhà đất với những khu căn hộ theo
phong cách tân thời có giá cả phải chăng ở South Side. Công trình được thi
công vào những năm 1950 và thiết kế như chung cư, nhằm giảm tình trạng
thiếu nhà ở cho các gia đình người da đen thuộc tầng lớp lao động giai
đoạn hậu Chiến tranh thế giới thứ hai. Về sau, khu nhà này dần xuống cấp
bởi sự nghèo nàn và các băng đảng bạo lực bủa vây, khiến nó trở thành một
trong những nơi sinh sống nguy hiểm ở thành phố Chicago. Tuy nhiên, rất
lâu trước khi chuyện này diễn ra, khi tôi mới chập chững biết đi, cha mẹ tôi
– vốn quen biết nhau từ thuở thiếu niên và kết hôn ở độ tuổi đôi mươi – đã
nhận lời chuyển xuống phía nam vài cây số để đến sống cùng ông bà Terry
và Robbie trong một khu nhà tử tế hơn.
Trên Đại lộ Euclid, hai hộ gia đình chúng tôi cùng sống dưới một mái nhà
không lớn lắm. Theo cấu trúc thì không gian ở tầng trên có lẽ đã được
thiết kế như căn hộ riêng biệt chỉ dành cho một hoặc hai người, nhưng cả
gia đình bốn người chúng tôi đã xoay xở được. Cha mẹ tôi ngủ trong
phòng ngủ duy nhất, còn anh Craig và tôi chia nhau một khu rộng hơn mà
tôi nghĩ vốn là phòng khách. Sau đó, khi chúng tôi lớn hơn, ông ngoại tôi –
Purnell Shields, một thợ mộc dù không lành nghề cho lắm nhưng lại rất
yêu nghề – mang về một tấm ván rẻ tiền và dựng lên một vách ngăn tạm để
chia căn phòng lớn thành hai gian riêng, ông gắn cửa lùa bằng nhựa cho
mỗi gian và chừa một không gian chung nho nhỏ trước cửa để chúng tôi
cất đồ chơi và sách vở của mình.
Tôi yêu căn phòng của mình. Nó chỉ rộng vừa đủ cho một chiếc giường đôi
và bàn học cỡ hẹp. Tôi để toàn bộ thú nhồi bông trên giường, cẩn thận sắp
xếp chúng quanh đầu nằm mỗi đêm như một nghi thức dễ chịu. Ở bên kia
vách, phòng của anh Craig được sắp xếp gần như đối xứng với phòng tôi,
với chiếc giường ngủ kê sát vách ngăn, song song với giường của tôi.
Vách ngăn mỏng đến mức anh em tôi có thể trò chuyện với nhau khi nằm
trên giường của mình và thường ném quả bóng bằng vớ cuộn tròn qua lại
giữa khe hở khoảng hai tấc của vách ngăn và trần nhà.
Trong khi đó, bà Robbie khiến không gian sống của mình trông như lăng
tẩm. Bàn ghế trong nhà bà được bọc trong màng nhựa bảo vệ khiến chúng
trông thật lạnh lẽo và cứ dính vào cẳng chân tôi mỗi khi tôi đủ can đảm
ngồi lên. Kệ tủ của bà chưng đầy những bức tượng nhỏ bằng sứ mà chúng
tôi không được phép động vào. Tôi thường đưa tay lại gần một bộ tượng
chó xù dễ thương bằng thủy tinh – chó mẹ có dáng vẻ hiền lành cùng ba
chú chó con nhỏ xíu – rỏi rụt tay lại vì sợ cơn lôi đình của bà Robbie.
Những ngày không có lớp dạy đàn thì tầng trệt lặng như tờ. tivi không bao
giờ được mở, radio cũng chẳng bật bao giờ. Thậm chí tôi cũng không chắc
là hai ông bà có thường trò chuyện với nhau không. Tên đầy đủ của chồng
bà Robbie là William Victor Terry, nhưng vì lý do nào đó mà chúng tôi chỉ
gọi ông bằng họ Terry, ông Terry giống như cái bóng lặng lẽ, một người
đàn ông có cung cách thanh lịch mặc com-lê chỉnh tề vào mọi ngày trong
tuần và gần như chẳng bao giờ hé môi.
Tôi thường nghĩ nhà trên và nhà dưới tựa như hai thế giới khác nhau với
hai bầu không khí hoàn toàn đối lập. Trên lầu, chúng tôi ồn ào và không hề
cảm thấy hổ thẹn vì chuyện đó. Craig và tôi chơi ném bóng và rượt đuổi
nhau vòng vòng trong nhà. Chúng tôi xịt nước đánh bóng gỗ lên sàn hành
lang để có thể trượt xa và nhanh hơn khi mang vớ, và chúng tôi vẫn thường
xuyên đâm sầm vào tường. Chúng tôi có những trận đấu quyền Anh giữa
anh trai và em gái trong bếp, dùng hai bộ găng mà cha đã tặng vào dịp
Giáng sinh cùng với những hướng dẫn riêng cho từng đứa để làm sao tung
một cú jab[5] ra hồn.
Về đêm, gia đình chúng tôi cùng chơi board game[6], kể chuyện bông đùa
với nhau và nghe đĩa nhạc của nhóm The Jackson 5. Khi chịu hết nổi thì bà
Robbie nhà duới sẽ dứt khoát tắt rồi bật, rồi lại tắt rồi bật công tắc điện ở
cầu thang chung, đồng thời cũng là công tắc điều khiển đèn hành lang tầng
trên của chúng tôi – như một cách lịch sự để ra hiệu cho chúng tôi nhỏ
tiếng lại.
Bà Robbie và ông Terry đã lớn tuổi. Họ lớn lên ở thời đại khác, với những
mối bận tâm khác. Họ đã chứng kiến những điều mà cha mẹ tôi chưa từng
được chứng kiến – những điều mà hai anh em chúng tôi, ở độ tuổi trẻ con
ồn ào của mình, hoàn toàn không thể tưởng tượng được. Đó là những lời
mà mẹ tôi sẽ nói nếu chúng tôi bắt đầu làu bàu về sự khó chịu của nhà
dưới. Chúng tôi được dạy là dù không biết đến một tình cảnh nào đó thì
cũng hây luôn nhớ là nó có tồn tại. Cha mẹ sẽ nói với chúng tôi rằng ai
cũng có một quá khứ mà chúng ta không hay biết, và chúng ta nên nhớ
điều đó để cảm thông với mọi người. Nhiều năm sau tôi mới biết bà
Robbie đã từng kiện Đại học Northwestern tội kỳ thị chủng tộc – bà đăng
ký tham gia khóa hợp xướng do trường tổ chức vào năm 1943 và không
được phép ở trong ký túc xá nữ. Người ta bảo bà phải thuê phòng trong thị
trấn – nơi “dành cho người da màu”. Còn ông Terry từng là nhân viên
khuân vác hành lý trên toa hạng sang của một trong những chuyến tàu đêm
chở hành khách đi và đến Chicago. Đó là một nghề đáng quý, dù tiền nong
chẳng được cao lắm, hoàn toàn được đảm trách bởi những người đàn ông
da đen – những người vừa cố giữ cho bộ đồng phục của mình phẳng phiu
trong khi khuân vác hành lý, vừa phục vụ bữa ăn và nói chung là phục vụ
những nhu cầu của hành khách đi tàu, kể cả đánh giày.
Nhiều năm sau khi đã nghỉ hưu, ông Terry vẫn giữ lối sống nghiêm nghị
chỉnh tề – ăn mặc chỉn chu, thái độ phục tùng, không bao giờ khẳng định
bản thân dưới bất cứ hình thức nào, ít nhất đó là những gì tôi thấy. Như thể
ông đã từ bỏ một phần con người mình như một cách ứng phó với hoàn
cảnh. Tôi thường thấy ỏng cắt cỏ dưới sân giữa cái nắng hè gay gắt trong
đôi giày tây cổ điển, quần dài có dây đeo vai, nón phớt vành mỏng, ống tay
áo xắn lên cẩn thận. Ông tự nuông chiều bản thân bằng cách hút đúng một
điếu thuốc mỗi ngày và uống đúng một ly cocktail mỗi tháng, và ngay cả
khi ấy thì ông cũng không bao giờ buông thả bản thân theo cách cha mẹ tôi
vẫn làm mỗi tháng vài lần là nốc một ly rượu pha sô-đa hay một chai bia
Schlitz. Một phần nào đó trong tôi muốn ông Terry lên tiếng, bật mí bất cứ
bí mật nào ông đang mang theo. Tôi nghĩ ông có đủ thứ chuyện hay ho về
những thành phố ông đã đặt chân đến, về cách người giàu cư xử hoặc
không biết cư xử trên tàu. Nhưng chúng tôi không hề nghe được chút bí
mật nào từ ông. Vì lý do nào đó, ông Terry không bao giờ hé môi.
ĐƯỢC KHOẢNG BỐN TUỔI, tôi quyết định học dương cầm. Khi đó anh
Craig đang học lớp một. Thỉnh thoảng tôi thấy anh chạy xuống dưới lầu để
theo học lớp dương cầm hàng tuần của bà Robbie và vẫn nguyên vẹn trở
lên. Vậy nên tôi nghĩ mình đã sẵn sàng. Tôi khá tin là thật ra mình đã học
chơi dương cầm bằng cách cảm thụ dần qua biết bao giờ đồng hồ lắng
nghe những đứa trẻ khác lóng ngóng tập đàn. Âm nhạc đã nằm sẵn trong
đầu tôi. Tôi chỉ muốn xuống dưới và thể hiện cho bà Robbie chuẩn-mựccao của mình thấy là tôi có năng khiếu thế nào và sẽ trở thành học trò cưng
của bà mà không tốn nhiều công sức ra sao.
Cây dương cầm của bà Robbie được đặt trong một căn phòng nhỏ vuông
vức ở cuối nhà, gần ô cửa sổ nhìn ra sân sau. Bà đặt chậu cây ở một góc và
chiếc bàn gấp ở góc còn lại để học sinh ngồi điền nhạc phổ. Trong giờ dạy,
bà ngồi thẳng lưng trên chiếc ghế bành lưng cao được bọc nệm, tay gõ
nhịp, đầu ngẩng cao trong lúc chăm chú lắng nghe dò lỗi. Tôi có sợ bà
Robbie hay không? Không hẳn, nhưng bà có vẻ gì đó đáng dè chừng; bà
tượng trưng cho một kiểu uy quyền cứng nhắc mà tôi chưa từng gặp ở nơi
nào khác. Bà đòi hỏi mỗi đứa trẻ ngồi trước cây dương cầm của mình phải
thật xuất sắc. Tôi xem bà Robbie như một nhân vật để lấy lòng, hay có thể
là chinh phục theo cách nào đó. Tôi luôn cảm thấy cần phải chứng tỏ điều
gì đó với bà.
Trong buổi học đầu tiên, chân tôi đong đưa dưới ghế đàn vì ngắn quá chưa
chạm tới sàn nhà. Bà Robbie cho tôi dùng riêng một quyển sách nhạc vỡ
lòng – chuyện này khiến tôi mừng rỡ vô cùng – và dạy tôi cách đặt tay lên
phím đàn.
“Được rồi, hãy tập trung nào”, bà nói, gắt gỏng khi tôi thậm chí còn chưa
bắt đầu. “Hãy tìm phím Đô giữa.”
Khi bạn còn bé, dương cầm có thể trông như cây đàn ngàn phím. Bạn sẽ
nhìn chằm chằm một dải những phím trắng và đen trải dài đến mức hai
cánh tay nhỏ của bạn không thể với tới. Tôi nhanh chóng học được phím
Đô giữa là cột mốc. Đó là ranh giới giữa khu vực dành cho tay phải và tay
trái, giữa khóa Sol và khóa Fa. Nếu bạn có thể đặt ngón cái lên phím Đô
giữa, mọi thứ khác rồi sẽ tự động đâu vào đó. Các phím trên cây đàn của bà
Robbie có chút không đồng đều về màu sắc và hình dáng, vài phím bị sứt
mẻ đôi chỗ theo thời gian, khiến chúng trông như một hàm răng xấu xí.
Thật may, phím Đô giữa lại khuyết hẳn một góc to gần bằng đầu móng tay
tôi, điều này giúp tôi luôn tìm được vị trí trung tâm.
Hóa ra tôi thích dương cầm. Việc ngồi đàn cho tôi cảm giác rất tự nhiên,
như thể đó là chuyện dành cho tôi. Gia đình tôi có nhiều nh...
 





